2 di tích lịch sử văn hóa lâu đời không thể bỏ qua khi đến Hà Nội

2 di tích lịch sử văn hóa lâu đời không thể bỏ qua khi đến Hà Nội

Hà Nội 27.02.2020

Đền Ngọc Sơn và Văn Miếu Quốc Tử Giám là 2 di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa đặc biệt với thủ đô Hà Nội. Đến những địa điểm này, bạn sẽ được chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc mang đậm giá trị truyền thống Việt Nam.

Được viết bởi hoant

 Đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn là ngôi đền thờ nổi tiếng ở Hà Nội, nằm trên đảo Ngọc của Hồ Hoàn Kiếm. Đền được xây dựng từ thế kỷ 19, ban đầu lấy tên là chùa Ngọc Sơn, sau đổi thành đền Ngọc Sơn vì đền chỉ thờ thần Văn Xương Đế Quân - vị thần được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân và Trần Hưng Đạo - vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13.

79469283_116906786464889_3848772661766773584_n.jpg

Đình Trấn Ba trong đền Ngọc Sơn - Ảnh: @agirrecaro

Về quá trình xây dựng, khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã đặt tên ngôi đền đã có tại đây là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần đổi tên là Ngọc Sơn. Bài ký "Đền Ngọc Sơn đế quân" được soạn năm 1843 có viết một đoạn về chùa Ngọc Sơn lúc bấy giờ: "...Hồ Tả Vọng tên cũ gọi hồ Hoàn Kiếm là một danh thắng đất Kinh kỳ xưa. Phía bắc mặt hồ, một gò đất nổi lên rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời cuối Lê. Trước đây, ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đấy bèn mở rộng sửa sang thêm gọi là chùa Ngọc Sơn...". Sau đó, chùa được làm đền thờ Tam Thánh và xây lại chính điện, đổi tên thành đền Ngọc Sơn. Vào năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.

denngocson3

Tháp Bút bên cạnh lối dẫn vào đền Ngọc Sơn. Ảnh: anninhthudo

Ngay từ lối vào đền Ngọc Sơn, du khách sẽ ấn tượng với hình ảnh Tháp Bút. Ngọn tháp được xây vào năm 1865 theo ý tưởng của nhà nho Nguyễn Văn Siêu, trên tháp có khắc 3 chữ “Tả Thanh Thiên” có nghĩa “Viết lên trời xanh”. Để vào đền, bạn sẽ đi qua cầu Thê Húc màu đỏ đặc trưng. Tên của cầu có ý nghĩa là “Nơi đón ánh sáng mặt trời lúc sáng sớm” hay “Ngưng tụ hào quang”.

ho-hoan-kiem-va-den-ngoc-son-la-quan-the-di-tich-nhat-dinh-phai-ghe-tai-ha-noi

Bạn sẽ đi qua cầu Thê Húc dẫn vào cổng đền Ngọc Sơn. Ảnh: ancu.me

Ngay cổng đền có dòng chữ Hán mang y nghĩa triết tự rất ý nghĩa như: Ngọc ư tư (nghĩa là: Ngọc ở đây); Sơn ngưỡng chỉ (nghĩa là: Ngửa trông núi). Đền có kiến trúc hình chữ Tam, trong chùa có nhiều hoành phi, câu đối và vật trang trí linh thiêng. Mái đình Trấn Ba của đền Ngọc Sơn hình vuông, có tam mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ, hệ thống bốn cột ngoài của đền được làm bằng đá và bốn cột trong bằng gỗ. Đây là điều độc đáo của đền bởi thông thường các cột của chùa sẽ chỉ làm bằng gỗ. Trong đền, có 2 khu đền chính thờ thần là Văn Xương Đế Quân - là vị thần được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân và Trần Hưng Đạo - vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13.

Du-lich-ho-guom-ha-noi-mytour-12

Đình Trấn Ba của đền Ngọc Sơn có kiến trúc đặc biệt với bốn cột ngoài của đền được làm bằng đá và bốn cột trong bằng gỗ. Ảnh: mytour

den-ngoc-son-bestour6

Tượng thờ trong đền Ngọc Sơn. Ảnh: bestour

Ngoài ra, đền còn một điều đặc biệt nữa là nơi đây đặt tiêu bản tiêu bản của rùa Hồ Gươm - con rùa được cho là do vua Lê Lợi thả vào Hồ Gươm xưa kia. Vì có tuổi thọ khá cao, khoảng 200 tuổi, nên người Việt Nam thường gọi cung kính bằng tên cụ rùa. Hình ảnh cụ rùa trong lồng kính với tầm vóc to lớn khiến cho khách du lịch khi tới nơi đây phải ngạc nhiên.

3-1552708516

Tiêu bản cụ rùa Hồ Gươm được trưng bày trong đền Ngọc Sơn. Ảnh: Vnexpress

Văn Miếu Quốc Tử Giám

Văn Miếu Quốc Tử Giám tọa lạc tại số 58 Quốc Tử Giám, phường Đống Đa, Hà Nội. Đây là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của Hà Nội. Với hơn 700 năm hoạt động, Quốc Tử Giám được coi như là trường đại học đầu tiên của Việt Nam và cũng là biểu tượng cho nền khoa cử thời phong kiến của dải đất hình chữ S.

2337_b1a29f49-f486-45b3-ae99-f8d661ff8cb6

Văn miếu Quốc Tử giám. Ảnh:

Khởi nguyên của Quốc Tử Giám vốn chỉ là miếu thờ Khổng Tử, Chu Công và bốn môn đồ của Khổng tử là Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Tử và Tử Tư. Đến năm 1076, vua Lý nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám - trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam - nằm sau Văn Miếu. Thuở mới xây, trường chỉ dành cho các hoàng tử con vua, hoàng thân, quý tộc và con các đại thần (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1806, Quốc Tử Giám mở khoa thi thứ 2 để chọn người đỗ cao vào Hàn Lâm Viện. Mạc Hiển Tích là người đỗ đầu khoa thi năm đó, được bổ nhiệm làm Hàn Lâm học sĩ đầu tiên.

3956952543_76a3747817_o

Khởi nguyên của Quốc Tử Giám vốn chỉ là một miếu thờ. Ảnh: vitbeoxn.blogspot

Thời vua Lý Anh Tông, do cải cách việc học nên Văn Miếu chỉ còn thờ một mình Khổng Tử. Tới thời nhà Trần, khoa nho học đầu tiên mở năm 1232, Quốc Tử Giám được mở rộng, tuyển cả con dân thường học giỏi nên gọi là nhà Quốc Học. Đời Trần Nghệ Tông (1370-1372), nhà nho Chu Văn An từng làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám dưới triều Trần Minh Tông (1314-1329) là người Nam đầu tiên được đưa vào thờ ở Văn Miếu cùng với Khổng Tử. Dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), nền giáo dục được coi là thịnh đạt nhất. Nhà vua cho khắc bia lưu danh các tiến sĩ đặt ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đợt dựng bia đầu tiên vào năm 1484 với 10 bia ghi tên tiến sĩ các khoa trước mở đầu bằng khoa Nhâm Tuất - Đại Bảo thứ 3 (1442) thời Lê.

3956952537_3f39eb1ccf_o

Hình ảnh về Quốc Tử Giám thời xưa. Ảnh: vitbeoxn.blogspot

Đến đời nhà Nguyễn, một trường Quốc Tử Giám nữa được lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn Miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám được đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. 

Ngày nay, Văn Miếu Quốc Tử Giám tuy không còn là trường học nhưng lại là nơi tham quan của đông đảo khách du lịch, đây cũng là nơi khen tặng những học sinh, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập. Đặc biệt, đây còn là nơi cầu may trước mỗi kỳ thi của đông đảo sĩ tử.

76884938_164965144887113_7087643980113133332_n.jpg

Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày nay - Ảnh: @satthy

Về kiến trúc, Quốc Tử Giám nằm trong khuôn viên có diện tích 5.4331m2. Nơi đây được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam bao gồm các công trình như: cổng Văn Miếu môn, cổng Đại Trung môn, Khuê Văn Các, cổng Đại Thành môn, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.

Hồ Văn

16_PSSQ

Toàn cảnh Hồ Văn nhìn từ trên cao. Ảnh: kienthuc

Trước mặt Văn Miếu ngày nay, phía bên kia đường có một hồ khá rộng gọi là Hồ Văn hay Hồ Minh Đường, người dân hay gọi là Hồ Giám. Ở giữ hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thủy đường - là nơi diễn ra các buổi bình thơ văn của nho sĩ khi xưa. Theo ý đồ, đây vốn là "tiểu minh đường" của Văn Miếu - một bộ phận có vai trò khăng khít trong toàn bộ kiến trúc chung.

h-van-d-i-di-n-van-mi

Hồ Văn thoáng đãng với mặt nước trong xanh. Ảnh: tripadvisor

Có một điều đặc biệt ở Hồ Văn chính là vào năm 1998, khi nạo vét cải tạo lại hồ, người ta tìm thấy tấm bia Hoàn Văn hồ bi, soạn năm Bảo Đại thứ 17 (1942), do cử nhân khoa Quý Mão Hoàng Huân Trung soạn. Mặt sau của bia khắc bản dịch chữ Hán ra chữ Quốc ngữ. Trên tấm bia có đoạn: "Hồ này ở ngoài tường cửa thứ ba Văn Miếu tên là hồ Minh Đường hay là Văn hồ. Hồ rộng 1 vạn chín trăm thước vuông tây, trong hồ có gò tròn tên gọi Kim Châu rộng hai trăm thước vuông".

Khung cảnh Hồ Văn thoáng đãng với mặt nước trong như gương, cây cối bên bờ râm mát với gò đất nhỏ nổi lên giữa hồ tạo điểm nhấn cho nơi đây.

Văn Miếu môn

van-mieu-mon

Văn Miếu môn. Ảnh: Vntrip

Văn Miếu môn tức tức là cổng tam quan phía ngoài. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng. Cổng được gắn 3 chữ "Văn Miếu Môn" bằng tiếng Hán. Vào năm Khải Định thứ 3, vua đến chiêm bái Văn Miếu Hà Nội và có làm 2 bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán rồi cho khắc vào bia dựng trên gác tam quan. Tuy nhiên, hiện nay bia đã không còn mà chỉ còn bệ bia.

Trước Văn Miếu môn là tứ trụ (nghi môn) và 2 tấm bia Hạ Mã ở hai bên. Xưa kia, dù là tướng hay công hầu đi qua Văn Miếu môn đều phải xuống đi bộ ít nhất từ bia Hạ Mã bên này qua bia Hạ Mã bên kia mới được lên xe. Điều này chứng tỏ Văn Miếu có vị trí rất tôn nghiêm.

Đại Trung Môn

Văn_Miếu,_Đại_trung_môn

Đại Trung Môn. Ảnh: Wikipedia

Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Các hàng cột này được làm bằng gỗ và sơn đỏ tạo sự hài hòa với kiến trúc mái ngói đỏ. Khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng tạo cảm giác thoáng mát, tĩnh mịch đúng chất "văn vật sở đô".

Khuê Văn Các

van-mieu-quoc-tu-giam-khue-van-cac-1024x683

Khuê Văn Các. Ảnh: chotourviet

Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các (nghĩa là gác có vẻ đẹp của sao Khuê). Đây là một lầu vuông có 8 mái, trong đó có 4 mái thượng và 4 mái hạ được xây vào năm 1805 dưới triều Nguyễn. Kiểu dáng của Khuê Văn Các được chia thành 2 tầng, tầng dưới là 4 trụ gạch vuông chạm khắc hoa văn tinh xào, tầng trên là kiến trúc gỗ được son son thếp vàng trừ phần mái lợp và các phần trang trí góc mái. Kiến trúc của Khuê Văn Các độc đáo ở chỗ có 4 mặt, các mặt đều được bịt bằng ván gỗ. Các cửa và các thanh gỗ chống này được thiết kế tượng trưng cho sao Khuê lấp lánh. Mỗi mặt tường gỗ đều chạm đôi câu đối chữ Hán ý nghĩa.

Khuê Văn Các xưa kia vốn là nơi để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt tạo khung cảnh yên tĩnh, thơ mộng.

Giếng Thiên Quang, bia Tiến sĩ

3727__MG_0341

Giếng Thiên Quang có hình vuông. Ảnh: vietnammoi

Giếng Thiên Quang (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Tên của giếng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng đặc biệt ở chỗ có hình vuông chứ không phải hình tròn như thông thường, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Xưa kia, người ta quan niệm rằng giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời.

Quoc-tu-giam-1280x640

82 tấm bia Tiến sĩ hình con rùa bằng đá xanh được dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang. Ảnh: ditichkhanhhoa

Đáng chú ý nhất ở đây là 82 tấm bia Tiến sĩ hình con rùa bằng đá xanh được dựng ở hai bên phải, trái của Giếng Thiên Quang. Sở dĩ người ta chọn con rùa bởi theo tín ngưỡng người Việt, rùa biểu tượng cho sự khôn ngoan và trường thọ. Trong số những tấm bia này, tấm sớm nhất được dựng vào năm 1484 khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779).

bia-tien-si

Cận cảnh các bia Tiến sĩ. Ảnh:

Theo tài liệu của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch cho biết: "Giá trị và nét độc đáo của 82 bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê - Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, là những bài văn khắc trên bia. Trên thế giới có rất nhiều nước dựng bia, nhưng duy nhất bia tiến sĩ Văn Miếu có bài ký ghi lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài".

unnamed

Đền Khải Thánh. Ảnh: toandungmedia

Doi-net-ve-kien-truc-van-mieu-quoc-tu-giam-04

Nhà Thái học. Ảnh: vietfuntravel

Ngoài ra, Quốc Tử giám còn một số công trình khác du khách không nên bỏ lỡ như cổng Đại Thành Môn, khu điện thờ, Đền Khải Thánh, Nhà Tiền đường, Hậu đường, Khu Thái học.