5 điểm du lịch không thể bỏ qua khi tới thăm làng cổ Đường Lâm ngay ở Hà Nội

5 điểm du lịch không thể bỏ qua khi tới thăm làng cổ Đường Lâm ngay ở Hà Nội

Hà Nội 27.02.2020

Làng cổ Đường Lâm không chỉ nổi tiếng với nét bình yên đặc trưng của vùng quê Bắc Bộ khi xưa mà còn lưu giữ nhiều địa điểm có giá trị về lịch sử, văn hóa từ lâu đời.

Được viết bởi hoant

Giới thiệu vài nét về Làng Cổ Đường Lâm

lang-co-duong-lam.jpg

Làng cổ Đường Lâm - Ảnh: dulichchaovietnam.com

Làng Cổ Đường Lâm thuộc địa phận huyện Sơn Tây, Hà Nội, cách trung tâm thành phố 44 km về phía Tây. Đường Lâm là quê hương của nhiều danh nhân nổi tiếng, trong đó nổi bật phải kể đến Phùng Hưng (lãnh tụ một cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường thời Bắc thuộc lần thứ ba (602-905) và Ngô Quyền (là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam), do đó mà nơi đây còn được gọi là đất hai vua. Tuy được gọi là làng nhưng từ xưa Đường Lâm đã gồm 9 làng thuộc tổng Cam Giá Thịnh huyện Phúc Thọ trấn Sơn Tây, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán và tín ngưỡng hàng ngàn năm nay không hề thay đổi.

Ngày 19 tháng 5 năm 2006, Làng Đường Lâm đã trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa vì những di sản kiến trúc nơi đây, cũng như những giá trị văn hóa lịch sử khác của ngôi làng.

Những địa điểm không thể bỏ qua khi đến Làng Cổ Đường Lâm

Cổng Mông Phụ

15625204_1630292157267748_6101137989000232960_n

Cổng Mông Phụ là cổng làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam. Ảnh:

Có nhiều lối vào làng cổ Đường Lâm nhưng cổng Mông Phụ ở thôn Mông Phụ trở thành điểm tham quan không thể bỏ qua bởi nó là cổng làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam. Cổng làng Mông Phụ được xây dựng từ thời Hậu Lê năm 1553 vào đời vua Lê Thần Tông. Kiến trúc của cổng làng theo kiểu “thượng gia hạ môn” (trên là nhà, dưới là cổng). Điểm đặc biệt của cổng làng này là được làm bằng đá ong đào từ lòng đất, cát được lấy trên gò trong vùng rồi trộn vôi với mật, tạo thành hỗn hợp kết dính để xây cổng. Tường được xây đá ong, trần chít mạch. Hai cánh cổng được làm bằng gỗ lim dày chừng năm phân xoay trên hai cối cổng bằng đá và hai bánh xe gỗ bọc thép.

Cổng làng có khắc câu đối ngay dưới xà ngang, câu đầu bên tả là dòng chữ “Kỷ Mão mạnh hạ sắc chỉ” nghĩa là năm Kỷ Mão dựng cổng làng. Cũng chính vì căn cứ vào nội dung câu này mà các nhà nghiên cứu đã xác định được thời gian xây dựng cổng. Câu đầu bên hữu ghi “Thế hữu hưng nghi đại”, với nghĩa là: cần phát huy kế tục những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của làng quê (tinh thần hiếu học, đoàn kết, thượng võ) và cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi.

camnhi-201903031919-cong-lang

Cổng làng được thiết kế tựa như ngôi nhà và được xây bằng đá ong. Ảnh: vietravel

Ngoài ra, cổng làng Mông Phụ cũng có điểm tương đồng với những cổng làng truyền thống khác của Bắc Bộ xưa  như là cây đa, giếng nước.

Đình làng Mông Phụ

Các nhà sử học cho rằng đình làng Mông Phụ cũng được xây từ thời Hậu Lê (thế kỷ 14), dưới thời vua Lê Thần Tông. Đình vốn là nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh - người đứng đầu trong tứ bất tử của người Việt làm Thành hoàng làng. Đến đời vua Tự Đức thứ 12 (1859), đình được mở rộng hơn và giữ nguyên kiến trúc đến bây giờ.

1200px-Dinh_mong_phu

Đình làng Mông Phụ. Ảnh: wikipedia

Đình làng Mông Phụ có Nghi môn (cổng chính) gồm bốn trụ vuông xây bằng gạch, trên đỉnh 2 trụ có 2 con sư tử ngồi nhìn ra phía giữa, đỉnh hai trụ nhỏ đội hai bình hoa. Ba mặt trụ có các câu đối chữ Hán chạm nổi. Ngoài ra còn có nhà Tả mạc để thờ tổ tiên các dòng họ trong làng, nhà Hữu mạc thờ người có công với làng. Công trình nổi bật của đình là tòa Đại Đình, có kiến trúc “ba gian hai chái” (nhà có 3 phòng được cơi nới thêm 2 phòng nhỏ) - một kiểu nhà gỗ truyền thống khi xưa của Việt Nam.

bức chạm nổi tiếng rồng cha dạy rồng con viết chữ thánh hiền

Chạm trổ đầu rồng trong đình. Ảnh: kienthuc

Mái đình hình võng nhẹ, lợp ngói mũi hài, hai đầu nóc có chạm hình hai con rồng. Góc mái uốn ngược lên thành hình rồng. Trong đình, những mô típ trang trí như chim, hoa, lá, mây, rồng, hổ... đều được chạm nổi, chạm ren hoặc chạm lộng. Đáng chú ý nhất là đình có rất nhiều bức hoành phi, câu đối, nổi bật như “Dũng cảm cả tưởng” do vua Thành Thái ban tặng cho Làng sau một trận săn bắt cướp. Bên cạnh đó, nơi đây còn có các hiện vật gồm 17 đạo sắc phong, kiệu, bát, các đồ tế tự bằng gỗ, đồ gốm sứ, hoành phi, câu đối, cửa võng.

Screenshot_3

Bức hoành phi với bốn chữ "Dũng - Cảm - Cả - Tưởng" - Ảnh: Nguyễn Thị Ngọc

Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh

congnha tho tam hoa giang van minh

Cổng vào nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh. Ảnh: baodulich.net

Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh được xây dựng năm 1845 ở thôn Mông Phụ trong làng. Đây là nơi nhân dân trong làng thờ phụng Thám hoa Giang Văn Minh.

Tương truyền, Giang Văn Minh sinh năm 1573 tại làng. Ông đỗ Thám hoa khoá Mậu Thìn, đời Vua Lê Thần Tông năm 1628. Năm 1673, ông được vua Lê cửa đi sứ ở Trung Hoa. Vì muốn thử tài của sứ thần nước Việt bằng 1 câu đối, Giang Văn Minh liền đáp lại đanh thép bằng một câu đối thể hiện khí chất ngút trời. Sau đó, vua nước Trung cho rằng bị Giang Văn Minh sỉ nhục nên đã giết ông để xem sứ giả nước Việt "to gan lớn mật thế nào" rồi chuyển xác ông về nước. Được tin Thám hoa Giang Văn Minh chết một cách anh dũng, Vua Lê và Chúa Trịnh vô cùng thương tiếc. Đích thân vua đã về quê ông dự lễ an táng và tặng ông mấy chữ: Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng có nghĩa là “Đi sứ mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ” và truy phong cho ông chức “Công bộ Tả thị lang,  tước Vinh quận công”. Lễ giỗ hám hoa Giang Văn Minh vào ngày 2/6 Âm lịch hàng năm.

ohs1365150989

Tiền đường của nhà thờ. Ảnh: baodulich.net

Khu nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh có diện tích khoảng 400m2 có kiến trúc hình chữ nhị gồm tiền đường và hậu đường. Cổng nhà thờ nổi bật với dòng chữ Hán "Giang Thám hoa công từ” (Nhà thờ Công bộ Tả thị lang Thám hoa Giang Văn Minh). Hậu đường là nơi thờ phụng chính với các đồ thờ được sơn son thếp vàng đẹp đẽ. Một số di vật quý trong nhà thờ gồm có: 20 đôi câu đối chữ Hán (10 đôi viết trên gỗ sơn son thếp vàng, 10 đôi viết trên cột tường), 3 tấm bia đá, 4 bức hoành phi.

Chùa Mía

noi-luu-giu-nhung-pho-tuong-co-nhat-viet-nam-2-0909

Chùa Mía. Ảnh: VOVgiaothong

Chùa Mía (còn gọi là Sùng Nghiêm tự) tọa lạc ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Trước kia, vùng này là Cam Giá, tên Nôm là Mía, nên nhân dân trong vùng hay gọi là chùa Mía.

Ban đầu, chùa chỉ có quy mô nhỏ. Vào năm 1632, Ngô Thị Ngọc Diệu - phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng - đã tôn tạo lại chùa. Bà vốn là người ở làng nên được người dân mến mộ gọi là "Bà Chúa Mía" và tạc tượng đưa vào phối thờ ở chùa và còn có đền thờ riêng. Dù chùa được sửa sang nhiều lần, nhưng đến nay quy mô tôn tạo thời Bà Chúa Mía dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Du-lich-chua-mia-ha-noi-mytour-8

Tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên Hoa cao 13m trong Chùa Mía. Ảnh: mytour

Kiến trúc chùa theo kiểu truyền thống xưa kia của Việt Nam. Gác chuông là ngôi nhà 3 gian, các góc mái gắn đao triện, sàn nhà bằng gỗ. Đặc biệt hơn, trên gác còn treo quả chuông đúc năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) và một khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1864). Gần gác chuông có tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên Hoa cao 13 m thờ vọng Xá Lợi đức Phật. Nơi đây được chia thành Chùa Trung và Chùa Thượng. Có hai dãy hành lang nối chùa Trung và chùa Thượng, bao quanh lấy Phật điện ở giữa.

vietise-chua-mia.jpg

Ở dãy hành lang bên trái là 9 pho La Hán được tạo đắp diện tướng khác nhau - Ảnh: @vietise

Một điều đặc biệt giúp Chùa Mía nổi tiếng là nơi đây lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam với 287 pho tượng lớn nhỏ. Trong đó có 6 pho tượng đồng, 106 pho tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng. Chùa Thượng còn có các động bằng đất đắp, trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng. Động Quán Âm Nam Hải là một trong những bức tượng thuộc loại quý hiếm, ít xuất hiện ở các chùa miền Bắc cũng như ở Việt Nam. Một bức tượng khác cũng rất nổi bật ở Chùa Mía là tượng Quan Âm Tống Tử (cao 0,76m), thường được gọi là tượng Bà Thị Kính diễn tả người phụ nữ thùy mị, duyên dáng nhưng hơi buồn ẵm một đứa bé bụ bẫm.

noi-luu-giu-nhung-pho-tuong-co-nhat-viet-nam-10-0910-0812

Tượng Quan Âm Tống Tử (cao 0,76m), thường được gọi là tượng Bà Thị Kính. Ảnh: phatgiao.org

Chùa Mía đã được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật. 

Những ngôi nhà cổ

Làng cổ Đường Lâm có tới 956 ngôi nhà cổ và ngôi nhà cổ nhất đã được xây dựng từ năm 1649. Tất cả các ngôi nhà cổ đều được xây dựng từ các vật liệu truyền thống như gỗ xoan, tre, gạch nung... Mỗi ngôi nhà cổ đều có nét đẹp riêng nhưng mang điểm chung là kiến trúc 5 hoặc 7 gian với khung cảnh bình dị, yên ả điển hình của làng quê Bắc Bộ xưa kia.

cuong_jamie.jpg

Một ngôi nhà cổ điển hình tại Làng Cổ Đường Lâm - Ảnh: @cuong_jamie

wecheckin.jpg

Các ngôi nhà cổ đều được thiết kế với lối kiến trúc 5 gian hoặc 7 gian - Ảnh: @wecheckin

Đền thờ Phùng Hưng và đền thờ Ngô Quyền

Đền thờ Phùng Hưng - Ảnh: Việt sử giai thoại

Đền thờ Phùng Hưng có rất nhiều ở Việt Nam nhưng đền ở Làng cổ Đường Lâm có quy mô lớn nhất nhưng chưa rõ niên đại xây dựng. Phùng Hưng là thủ lĩnh nghĩa quân khởi nghĩa vào tháng 4 năm Tân Mùi (791) chống lại ách đô hộ khắc nghiệt của nhà Đường. Đền thờ có kiến trúc đời nhà Nguyễn vào những năm đầu thế kỷ XX gồm các hạng mục công trình như: Tả – Hữu Mạc, Đại Bái, Hậu Cung. Vào năm 1889, dưới thời vua Thành Thái, đền được trùng tu lại và có hình dạng như hiện nay. Trong đền thờ có tấm bia Phùng tự bi ký ở đình Đoài Giáp được tạc vào năm Hồng Đức thứ 4 (1473). Nội dung tấm bia ghi lại rất nhiều thông tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Phùng Hưng.

thờ ngo - quyen-wecheckin.jpg

Đền thờ Ngô Quyền - Ảnh: Wecheckin

Cách đền Phùng Hưng khoảng 500m là đền và lăng thờ Ngô Quyền - vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Đền được xây cách lăng khoảng 100m và đều nằm trên một đồi đất cao có tên là Đồi Cấm. Tương truyền đây có lẽ là vị trí đẹp nhất của Đường Lâm khi xưa. Đền thờ Ngô Quyền được xây dựng từ rất lâu và tu sửa nhiều lần. Lần tu sửa gần nhất là vào thời vua Tự Đức (1848 – 1883). Đền gồm Nghi Môn, Tả Mạc, Hữu Mạc, Đại Bái (Tiền Đường) và Hậu Cung. Hiện nay, Đại Bái còn được dùng làm phòng trưng bày về trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng và thân thế, sự nghiệp của Ngô Quyền. Lăng mộ Vua Ngô Quyền được xây vào năm Tự Đức thứ 27 (1874) và trùng tu năm Minh Mạng thứ 2 (1821). Đặc biệt nơi đây có 18 cây duối cổ - tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc voi, ngựa xưa kia.

Cách di chuyển đến làng cổ Đường Lâm

Xe máy

Nếu đi xe máy hoặc ô tô, bạn di chuyển theo hướng đại lộ Thăng Long hoặc xuôi theo đường 32 chiều Nhổn - Sơn Tây là có thể đến được làng cổ Đường Lâm. Cụ thể bạn có thể lựa chọn hai cung đường sau: 

- Hà Nội -> Đại lộ Thăng Long -> ngã ba Hòa Lạc rẽ phải theo đường 21 -> qua Sơn Lộc đến ngã tư giao nhau với đường 32 -> có biển chỉ dẫn rẽ vào Làng cổ Đường Lâm.

- Hà Nội -> đi theo hướng về Nhổn -> quốc lộ 32 tới thị xã Sơn Tây -> ngã tư giao nhau với đường 21 -> có lối rẽ vào cổng làng Đường Lâm ở phía bên tay trái đường. 

Xe bus

Từ bến xe Mỹ Đình đến bến xe Sơn Tây các bạn đi xe bus tuyến số 71, giá vé 14.000 VNĐ/vé; đi từ bến Kim Mã đến bến xe Sơn Tây, tuyến số 70; từ bến xe Hà Đông đến bến xe Sơn Tây: tuyến số 77. Sau khi đến bến xe Sơn Tây các bạn bắt xe ôm hoặc taxi đi vào Làng cổ Đường Lâm.

Tham quan làng Cổ Đường Lâm chỉ nên đi bộ hoặc thuê xe đạp. Nếu bạn thuê xe đạp theo giá khoảng 30.000 đồng/h hoặc 100.000 đồng /ngày.

lang-co-duong-lam-wecheckin.jpg

Tham quan làng cổ Đường Lâm bằng xe đạp là sự lựa chọn rất thú vị - Ảnh: Wecheckin

Thời điểm thích hợp để du lịch Làng Cổ Đường Lâm

Thời gian lý tưởng nhất để tham quan Làng Cổ Đường Lâm là mùa lễ hội và mùa lúa chín. Mùa lễ hội thường diễn ra vào tháng 2, lúc này không khí trong làng náo nhiệt. Mùa lúa chín vào khoảng tháng 5 - tháng 6 hàng năm với khung cảnh lúa chín, rơm vàng trải khắp đường làng ngõ xóm thật bình yên.

unnamed (1).jpg

Ngôi làng đậm chất quê với những con đường lát gạch trải đầy rơm rạ - Ảnh: Ktds.vn

Nguồn tham khảo:

Sontay.hanoi

Phatgiao.org