3 lăng tẩm đồ sộ, độc đáo nhất xứ Huế mang đậm văn hóa miền đất cố đô

3 lăng tẩm đồ sộ, độc đáo nhất xứ Huế mang đậm văn hóa miền đất cố đô

Thừa Thiên Huế 16.03.2020

Huế nổi tiếng là mảnh đất của cố đô Việt Nam với nhiều nét kiến trúc xưa cổ. Trong đó phải kể đến những lăng tẩm thờ những vị vua ở Việt Nam qua từng các thế kỷ. Hãy cùng Nem-vn.net khám phá 3 lăng tẩm với nhiều nét lịch sử mang tính biểu tượng của dân tộc Việt Nam.

Được viết bởi giangvx

1. Lăng Tự Đức

Nằm trong ba lăng nổi tiếng tại Huế, lăng Tự Đức được xem là công trình đẹp nhất trong các công trình lăng vua ở Huế với lối kiến trúc thời Nguyễn.

Theo đó, ông vua thi sĩ Tự Đức (1848 -1883) sau khi băng hà dưới mảnh đất cố đô sau nhiều năm cai trị đất nước, ngài đã lựa chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.

lăng tđ.jpg

Ảnh: Zing.vn

Lăng được xây dựng dưới một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).

Trị vì đất nước ở thời kỳ chiến tranh loạn lạc, xã hội kinh tế khó khăn bên ngoài giặc ngoại xâm tấn công, bên trong là chiến tranh nội bộ khi anh em lục đục tranh giành nhau ngôi báu, nhà vua lúc này lại đang lâm trọng bệnh, không có con. Trước lúc từ trần, vua Tự Đức đã căn dặn tôi thần đưa thi hài về khu vùng thôn quê xây dựng thành lăng tẩm như một hành cung thứ hai để tiêu sầu và phòng lúc “ra đi” bất chợt.

lăng tđ1.jpg

Với ý định ban đầu xây dựng, vua Tự Đức tự đặt cho tên của lăng tẩm là Vạn Niên Cơ, tuy nhiên sau cuộc khởi nghĩa Chày Vôi diễn ra do chính anh em Đoàn Hữu Trưng khởi xướng, nhà vua quyết định đổi tên thành Khiêm Cung, sau này khi vua chính thức băng hà thì tên được đổi lại là Khiêm Lăng.

Lăng được xây dựng với lối thiết kế 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, theo các nhà xây dựng lúc đó thì đều quyết định lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường.

lăng tđ2.jpg

Với lối thiết kế như vậy thể hiện thế tựa uy nghiêm cho nhà vua cai trị đất nước trong những năm đang nắm quyền. Một phần cũng bày tỏ sự tôn nghiêm đến nhà vua sau khi băng hà.

Lăng tẩm vua Tự Đức được xem là kiến trúc mang nét tương đồng với các lăng tẩm Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị các lăng tẩm Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đồ sộ và tạo thành một bức tranh kiến trúc cổ khi được nhìn từ trên cao.

lăng tđ3.jpg

Lăng Tự Đức là một công trình rộng lớn như một công viên thu nhỏ giữa lòng cố đô, ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, với nhiều loài chim tụ điểm về đây. Nét nổi bật trong lăng Tự Đức là sự kết hợp hài hòa giữa các đường nét kiến trúc tạo nên một nét đậm về lịch sử của Việt Nam từ xa xưa cho đến hiện nay.

Điểm riêng của lăng Tự Đức là không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các công trình kiến trúc khác. Đường vào lăng Tự Đức được lát gạch Bát Tràng từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh.

lăng tđ4.jpg

Lăng Tự Đức được hình thành với gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi đã được đặt trước đó khi nhà vua băng hà.

Bước đi qua cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn, du khách sẽ đến được với con đường chính dẫn vào khu vực điện thờ, nơi trước đây được xem là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của nhà vua. Đi dạo quanh khu vực, du khách sẽ đến với thoạt tiên nơi đây được gọi là Chí Khiêm Đường, đây là khu vực thờ các bà vợ của vua.

Bước tiếp một đoạn nữa du khách sẽ vào ba dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước.

lăng tđ5.jpg

Theo tương truyền và sử sách ghi lại thì bên trong Khiêm Cung Môn được xem là khu vực cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến ngự. Ngoài ra, chính giữa điện Hòa Khiêm được biết đến là nơi để vua làm việc, nơi đây cũng là nơi đặt bài vị của vua và Hoàng hậu để thờ cúng.

Tiếp đến hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Về phía sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Còn phía bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng du khách có thể thăm quan toàn bộ được nét đặc tính về lối kiến trúc cổ hàng thập kỷ trước. Ngoài ra, du khách cũng có thể mường tượng được nét đặc biệt của lăng tẩm khi bước đến điện Lương Khiêm nơi đây có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn.

Vưa Tự Đức được xem là nhà vua trị vì đất nước lâu nhất trong 13 vị vua ở Việt Nam với 36 năm đương nhiệm chức vụ vua.

2. Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng cũng được xếp vào lăng có nét lâu đời cùng lối kiến trúc đa dạng không kém với lăng của vua Tự Đức khi được xây dựng xây dựng lúc đất nước chưa có nhiều biến cố.

Sự kiện được đánh giá là có tính lịch sử lâu đời ở Việt Nam cho việc hình thành lăng Minh Mạng. Theo đó, vào tháng 2/1820 khi vua Gia Long băng hà, hoàng tử thứ tu là Nguyễn Phúc Đảm được truyền cương vị trị vì đất nước, lúc đăng ngôi vua vua Nguyễn Phúc Đảm lấy niên hiệu là Minh Mạng.

minh mạng.jpg

Theo sử sách Việt ghi lại, thì vua Minh Mạng là vị vua có nhiều đóng góp to lớn cho việc dựng nước và giữ nước. Ông cũng là người đưa nước Đại Nam lên hàng mạnh nhất trong các quốc gia ở Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Được biết, khi Minh Mạng lên ngôi vua được 7 năm thì ông bắt đầu cho quân thần đi tìm đất để xây dựng Sơn lăng cho mình. Lúc này, quan Địa lý Lê Văn Đức được giao trọng trách tìm kiếm cho nhà vua khu đất để xây dựng Sơn lăng, sau nhiều năm ông đã chọn được mảnh đất tốt nhất ở địa phận núi Cẩm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi đây được đánh giá là nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành con sông Hương thơ mộng. Nhưng phải ròng rã 14 năm cân nhắc, chọn lựa, đến năm 1840, nhà vua mới quyết định cho xây dựng lăng tẩm của mình ở nơi này.

minh mạng1.jpg

Diện tích của lăng được gói gọn bởi vòng La thành dài 1.750m đây được xem là một quần thể kiến trúc gồm cung điện, lâu đài, đình tạ được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700 m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn đến chân La thành sau mộ vua.

Lối xây dựng lăng được nhà thiết kế xây dựng giống như một người nằm nghỉ hưởng lạc với cuộc sống phồn thịnh, đất nước ấm no. Trong đó, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên.

minh mạng2.jpg

Du khách bước đến Lăng Minh Mạng sẽ thấy chính cổng vào là Đại Hồng Môn được xây bằng vôi gạch, cao 9m, rộng 12m. Nơi đây du khách sẽ có 3 lối đi với 24 lá mái lô nhô cao thấp và các đồ án trang trí cá chép hóa rồng, long vân,... được coi là tiêu biểu của loại cổng tam quan đời Nguyễn.

Tuy nhiên, cổng lăng chỉ được mở một lần để đưa quan tài của nhà vua vào trong lăng sau đó sẽ được đóng kín, du khách ra vào nơi đây phải đi qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Bước qua sau đại Hồng Môn du khách sẽ đến với Bái Đình, nơi đây được lát gạch Bát Tràng (sân rộng 45x45 m), du khách sẽ bắt gặp ngay hai hàng tượng quan văn võ, voi ngựa bằng đá đứng chầu. Tiếp đó, khi đi đến cuối sân, du khách sẽ được chiêm ngưỡng Bi Đình tọa lạc trên Phụng Thần Sơn, bên trong du khác sẽ thấy xuất hiện một bia với tên gọi “Thánh đức thần công” bằng đá Thanh ghi bài văn bia của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha.

minh mạng3.jpg

Lui tới nơi đây, du khách sẽ bắt gặp thêm bài vị thờ vua và bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu. Theo đó, khu vực Hoằng Trạch Môn được xây dựng với công trình kết thúc khu vực tẩm điện, mở ra một không gian của hoa lá và mây nước phía sau. Bước băng qua 17 thềm đá Thanh du khách sẽ đến với khoảng trời xanh bóng mát bóng cây và ngát thơm mùi hoa cỏ dại. Với ba chiếc cầu: Tả Phù (trái), Trung Đạo (giữa), Hữu Bật (phải) bắc qua hồ Trừng Minh như dải lụa xanh, đưa du khách đến Minh Lâu - một công trình như đột khởi từ quả đồi có tên là Tam Tài Sơn. Du khách như được lạc vào một thế giới khác sau khi đã tham quan gần hết các khu di tích trong lăng tẩm.

minh mạng5.jpg

Tiếp đó, du khách sẽ đi bước qua cầu Thông Minh Chính Trực bắc qua hồ Tân Nguyệt nơi sở hữu 33 bậc dẫn du khách đến thăm quan nơi yên nghỉ của nhà vua, nơi đây tọa lạc giữa tâm một quả đồi mang tên Khải Trạch Sơn, được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn.

Ở nơi đây có nhiều công trình phụ đối xứng nhau từng cặp một. Tuy nhiên, do tồn tại lâu cho nên các công trình kiến trúc đã bị tàn phá và du khách đến với nơi đây sẽ không còn được chiêm ngưỡng những cung điện nhỏ xinh nằm thấp thoáng giữa các vòm cây mang lại nét thư thái cho lăng tẩm.

3. Lăng Khải Định

Là lăng tẩm cuối cùng trong 3 lăng tẩm nổi tiếng nhất ở Huế, lăng Khải Định được nhiều du khách quốc tế ghé thăm. Nơi đây cũng được đánh giá là có lối kiến trúc độc đáo với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau, mỗi hình thù của lăng đều mang biểu tượng cho sự uy nghiêm của nhà vua lúc đương thời.

khải định.jpg

Được biết, vua Khải Định (1916-1925) là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn và là người cuối cùng xây dựng lăng tẩm, chuẩn bị cho sự “ra đi” của một ông vua vào buổi mạt kỳ của chế độ phong kiến.

Lên ngai vàng vào lúc 31 tuổi, vua Khải Định khá với các vị vua khác là không chú trọng trong việc xây dựng đất nước nhiều mà say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng. Đây là những công được sử sách Việt ghi lại là hao tồn nhiều nhân lực, sức lực và của cải của binh dân, nhưng về sau nơi đây vẫn mang một giá trị về văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của dân tộc.

khải định 5.jpg

Việc chọn xây dựng lăng tẩm cũng được nhà vua lựa chọn kỹ lưỡng bằng việc Khải Định đã tiến hành tham khảo nhiều tấu trình của các thầy Địa, ông đã quyết định lựa chọn triền núi Châu Chữ (còn gọi là Chậu Ê) làm vị trí để xây cất lăng mộ.

Theo đó, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án và lấy núi Chóp Vung cùng Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; cùng với đó không thể thiếu tính thủy trong vị trí đắc địa bằng việc xây lăng tẩm nằm cạnh khe Châu Ê có dòng chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ - vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng - thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi: Ứng Lăng.

khải định 7.jpg

Công trình được khởi công từ ngày 4/9/1920 và kéo dài trong 11 năm mới có thể hoàn thành. Để xây dựng lăng này, vua Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise… Ông tiếp tục cử người cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình. So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn: 117x48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian.

Lăng Khải Định được đánh là là du nhập của nhiều lối kiến trúc Ấn Độ, Phật giáo, Roman, Gothique... trong đó biểu tượng du khách sẽ nhận thấy rõ nhất khi đến đây chính là: những trụ cổng hình tháp lấy ý tưởng từ lối kiến trúc Ấn Độ; cùng với trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật; hàng rào như những cây thánh giá khẳng khiu; nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể... Đây được xem là nét văn hóa du nhập kiến trúc Đông – Tây trong việc hình thành và phát triển lối kiến trúc độc đáo ở Việt Nam.

khải định3.jpg

Được biết, lăng của vua Khải Định được nghệ nhân Phan Văn Tánh trực tiếp thực thi và cai quản công trình trong suốt quá trình xây dựng. Ông cũng là tác giả của 3 bức họa “Cửu long ẩn vân” được xếp vào hạng bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định.

Với công sức của Phan Văn Tánh công trình lăng của vua Khải Định được đánh giá là công trình độc đáo, đặc sắc nhất ở Việt Nam trong các công trình khác. Đây sẽ là một biểu tượng lớn của nét văn hóa giá trị của Việt Nam.

khải định6.jpg

Trên đây là 3 lăng tẩm độc đáo nhất ở Huế thu hút nhiều khác du khách mà Nem-vn.net chia sẻ cho quý du khách. Hi vọng du khách sẽ có những trải nghiệm thú vị khi đến với nơi đây.

Bài viết có tham khảo qua: Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế

Ảnh: Lê Huy Hoàng Hải