Nghề nón lá làng Chuông: Dấu ấn lịch sử về văn hóa Việt Nam

Nghề nón lá làng Chuông: Dấu ấn lịch sử về văn hóa Việt Nam

Hà Nội 01.06.2020

Nét văn hóa làng nghề truyền thống Việt Nam từ lâu được xem là di sản của đất nước. Trong đó có các làng nghề truyền thống như, mây tre đan, làng hương trầm,… và nghề làm nón lá. Với nghề nón, du khách có thể đến với làng Chuông ở Thanh Oai, Hà Nội trong chuyến tham quan của Nem-vn.net để hiểu rõ hơn về văn hóa đặc trưng trên đải đất hình chữ S.

Được viết bởi giangvx

1. Tìm hiểu nguồn gốc nghề nón lá làng Chuông

Nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 40km, làng Chuông thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai được biết đến là mảnh đất sinh ra những tú tài thời vua chúa ở Việt Nam. Nơi đây còn là hiện thân của những chiếc nón lá có tuổi đời hàng nghìn năm đến nay vẫn còn lưu giữ và truyền nghề qua từng thế hệ.

non4.jpg

Cổng làng Chuông hiện nay. Ảnh: sở văn hóa du lịch Hà Nội.

Làng Chuông vào đầu thế kỷ XIX gọi là xã Thì Trung. Theo sử sách Việt ghi chép lại, vào năm Tự Đức nguyên niên (1848), vì kiêng tên húy vua Tự Đức (là Nguyễn Phúc Thì) nên xã Thì Trung đổi tên thành xã Phương Trung, tổng Phương Trung, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên (năm 1815 đổi là phủ Ứng Hòa), trấn Sơn Nam Thượng. Tên xã được giữ đến nay.

non2.jpg

Ảnh: Sở văn hóa du lịch hà nội

Làng Chuông vào những năm trước cách mạng tháng Tám (1945) chỉ có 25 xóm đến năm 1947 nơi đây được gộp lại thành 7 thôn: Tây Sơn, Chung Chính, Liên Tân, Quang Trung, Mã Kiều, Tân Tiến và Tân Dân. Năm 2003 tách thôn Tân Dân thành Tân Dân 1 và Tân Dân 2. Như vậy, từ làng gốc nay được chia thành 8 thôn.

Nhắc về nghề nón xuất phát từ đâu đến nay vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Người ta chỉ biết rằng nghề này có từ lâu lắm rồi và nón lúc đầu làm chỉ để dùng trong làng, sau ngày càng nổi tiếng, bán khắp nơi, còn là sản phẩm cúng tiến cho các hoàng hậu, công chúa trong cung.

2. Công đoạn làm nón làng Chuông

Dụng cụ làm nón gồm có: Khuôn nón (tạo ra dáng nón thanh thoát - nón tốt nhờ khuôn); dao (để cắt vòng, gọt mo, lá); kéo (cắt lá, cắt chỉ); kim khâu (có nhiều kích thước, hình dáng, nhiều chức năng); bàn là lá (làm phẳng lá); lò hun lá, nón (cho lá và nón có màu trắng đẹp, chống mối mọt); lò sấy lá (sấy khô lá trong mùa mưa).

non9.jpg

Ảnh: didauchoigi.com

Để có chiếc nón bền đẹp cũng rất mất nhiều thời gian và công đoạn để thực hiện. Thường chiếc nón sẽ có 3 phần: Phần một là lớp lá lụi được phủ trong cùng, tiếp đến là phần mo tre và cuối cùng lớp lá lụi trên cùng.

Ðầu tiên là việc chọn lá. Lá nón được lấy từ cây lá lụi mọc ở vùng núi Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Người ta phải lựa loại lá màu sáng và xanh đều thì nón mới đẹp. Lá khi mua về sẽ được vò trong cát để lá mềm rồi mới đem phơi khoảng hai, ba nắng cho đến khi màu xanh của lá chuyển thành bạc trắng. Sau đó sấy thêm bằng bếp củi, bếp đun lửa nhỏ để lá khô dần mà không bị giòn, không bị nát.

non3.jpg

Lá lụi để làm nón sau khi phơi sẽ có màu trắng bạc và hơi xoăn. Người dân phải tẽ lá cho phẳng trước khi làm nón. Ảnh: didauchoigi.com

Vòng nón làm bằng thân cây tre, nứa. Người ta sẽ tiến hành vót tre, nứa thành dạng mảnh nhỏ, tròn và đều để khi nối với nhau không bị lệch hoặc gồ ghề.

Nón lá ở làng Chuông có 16 vòng, khuôn tám gọng. Người thợ xếp các vòng nón có kích cỡ khác nhau vào khung gỗ từ chóp nón trở xuống theo thứ tự từ bé đến lớn. Sau đó, lợp lá nón trong lên khung gỗ rồi đến lớp lá ngoài.

96530194_245880856620863_5026305835533207272_n.jpg

Lá nón và vòng nón được xếp trên khung nón. và Ảnh: @anett_pi

Sau đó, người thợ sẽ tiến hành thêu các chi tiết nhỏ nhắn lên lớp lá nón như bông hoa, phong cảnh... Tiếp đó là công đoạn buộc len trên hai góc nón tạo thành điểm cố định để buộc quai nón rồi phủ lớp ngoài cùng và khâu phần lá nón với các vòng nón cho chắc chắn.

non1.jpg

Ảnh: Sỏ văn hóa du lịch Hà Nội.

58909971_136898820734137_3130444645689483158_n.jpg

Ảnh: @vtv24news

Giai đoạn khâu nón là phần quan trọng nhất. Để làm nên một chiếc nón bền, đẹp người khâu nón phải có một đôi tay khéo léo, chuẩn từng mũi khâu, giúp không rách lá và giữ cho chiếc nón được phẳng không tạo nên nếp nhăn hoặc lồi lõm.

Để đánh giá được chiếc nón có thực sự chất lượng hay không người mua sẽ chú ý đến từng mũi khâu và lớp lá lụi bên trong, bên ngoài cùng quai nón.

non-lang-chuong-dulichchat-3.jpg

Chợ phiên làng Chuông. Ảnh: traveloka

3. Các loại nón lá

Ngày nay các loại nón cổ hiện không còn, cũng không ai nhớ chính xác hình dáng để phân loại, tuy nhiên qua nghiên cứu của các chuyên gia, có thể chia thành các loại như:

- Nón ba vòng đấu (có kích thước to, không khâu kỹ, sử dụng khi người nông dân đi làm đồng).

- Nón thúng quai thao (có vành rộng, ngửa lên có hình như cái thúng, có buộc thao dệt bằng tơ, thường gắn liền với áo tứ thân mớ ba mớ bảy của các bà, các cô).

- Nón mười (có hình như chiếc nia, các cụ già thường đội đi chùa).

Thaophuongnguyen-163415033431-non-la-3.jpg

Ảnh: 24h.com.vn

- Nón chóp dứa (làm bằng lá dứa, mỏng, nhẹ, trắng mốt, khâu bằng dây rất khéo như dệt vải, phía trên có chóp, thường dành cho người có chức sắc thời xưa sử dụng).

- Nón lính hay nón dấu (thường dùng cho lính thời xưa trong chiến trận, làm bằng cật tre, trên đỉnh có chóp bằng đồng, có quai buộc chặt vào cằm).

- Nón lá già ghép sống (làm bằng lá hồ, khâu bằng móc đen rất chắc và bền, dùng cho người nông dân đi làm ruộng).

non8.jpg

Ảnh: didauchoigi.com

Hiện nón ở làng Chuông chủ yếu sản xuất để phục vụ khách du lịch do nhu cầu trong nước đã không còn cao như trước. Để phục vụ khách du lịch, nón làng Chuông cũng đã có nhiều cải tổ là có đa dạng các loại nón như: nón con (chính là chóp nón, được lợp hai lần lá, đường kính 15-30cm, chủ yếu phục vụ du lịch); nón nhỡ (giống như nón nhỏ, đường kính 30-45cm, cho các em học sinh đội); nón Hồng Kông (có chóp nhọn và ngắn, vành nón rộng, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc); nón Lâm Xung (làm bằng lá hồ, hình dáng hơi giống chiếc mũ, chóp nón không nhọn); nón Thái (hình dáng giống chiếc nón của người Thái ở Tây Bắc, làm bằng lá hồ, chủ yếu xuất khẩu sang Nhật và Hàn Quốc).

non44.jpg

Ảnh: bansacviet.tuoitre.vn

Ngoài ra, làng Chuông còn có các loại nón khác như nón Bo (làm bằng lá hồ, hình chóp, làm theo đơn đặt hàng của Nhật); nón bộ ba, bộ năm (chùm nón gồm 3 hoặc 5 cái với nhiều kích cỡ, treo trên 1 sợi dây, để trang trí hoặc làm quà lưu niệm); nón bẹp chóp (được làm như nón chóp, không có lớp mo, phần chóp nón được bẻ gập xuống); nón mõm bò; nón chao đèn ngủ…  

3. Cách di chuyển đến làng Chuông

Từ nội thành Hà Nội, theo quốc lộ 6 vào Hà Đông, đến Ba La rẽ trái theo quốc lộ 22B khoảng 40km du khách sẽ gặp cổng làng được xây dựng khá lớn bên phải đường, trên cổng có hàng chữ lớn: Làng Chuông.

 Du khách có thể đi xe máy, xe du lịch hoặc xe buýt là đến với làng Chuông.

bus1.jpg

Ảnh: vov

Nem-vn.net chúc du khách có một chuyến tham quan làng nghề nón ở làng Chuông với nhiều trải nghiệm đầy thú vị.