Tên gọi Đà Nẵng thực chất có nghĩa là gì?

Tên gọi Đà Nẵng thực chất có nghĩa là gì?

Đà Nẵng - Quảng Nam 30.06.2020

Đà Nẵng được biết đến là một thành phố trẻ năng động với những bãi biển, ngọn núi mang nét đẹp vừa hùng vĩ, vừa trữ tình. Đà Nẵng đang dần được bạn bè quốc tế biết đến và hằng năm thu hút rất nhiều khách du lịch ghé thăm. Vậy, tên gọi Đà Nẵng có ý nghĩa gì và thành phố này đã từng mang những cái tên nào trong quá khứ? 

Được viết bởi thyltp

Tên gọi của thành phố Đà Nẵng qua các thời kỳ

Mảnh đất Đà Nẵng được lập ra vào thời vua Trần Anh Tông ở thế kỷ XV (lúc này nước Việt Nam có tên gọi là Đại Việt). Đến năm 1466, dưới thời vua Lê Thánh Tông thì Đà Nẵng thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Theo sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An soạn năm 1533 thì địa danh Đà Nẵng lần đầu tiên xuất hiện khi sách nhắc đến “một ngôi đền ở cửa biển Đà Nẵng” thờ một nhân vật từ thời Lê Thánh Tông.

Địa danh Đà Nẵng đã được ghi trên các bản đồ vẽ từ thế kỷ XVI như “An Nam hình thắng đồ”, “An Nam thông quốc toàn đồ”. Tên gọi Đà Nẵng có thể được giải thích theo ngôn ngữ Chăm có nghĩa là “sông lớn” hay “cửa sông cái”. Nguyên nhân là vì Đà Nẵng nằm trên tả ngạn sông Hàn kề bên cửa biển. 

tim-hieu-ten-goi-da-nang-qua-cac-thoi-ky-3

Đà Nẵng xưa (Ảnh: Youtube)

Vào thế kỷ XVII, Đà Nẵng được biết đến và được ghi trên bản đồ với tên gọi Cửa Hàn - cái tên có liên quan đến con sông Hàn tại thành phố này. Địa danh Cửa Hàn lúc bấy giờ được nhiều người Châu Âu nhắc đến. Vào năm 1615, khi cố đạo Buzomi đến Cửa Hàn vào dịp lễ Pâques, ông đã lập một nhà thờ nhỏ tại một nơi được ghi trên bản đồ của Alexandre de Rhodes vẽ năm 1666 là Kean (Kẻ Hàn). 

Người Trung Hoa gọi Đà Nẵng với tên gọi khác là Hiện Cảng. Thời xưa, khi tàu thuyền Trung Quốc vào Đà Nẵng thì thường lấy hòn Sơn Trà làm mốc định vị phương hướng. Hình dạng núi Sơn Trà từ xa trông giống con hến nên người Trung đặt cho nơi đây là “Hiện Cảng” có nghĩa là “Cảng con hến” hoặc “Cảng núi nhỏ hiểm trở”.

tim-hieu-ten-goi-da-nang-qua-cac-thoi-ky-2

Người Trung Hoa xưa kia đến Đà Nẵng buôn bán (Ảnh: tiasang.com.vn)

Người dân địa phương gọi Đà Nẵng với cái tên dân gian là Vũng Thùng (hiện nay Vũng Thùng là tên của một vùng biển nhỏ ở quận Sơn Trà - nơi neo đậu tàu thuyền của ngư dân). Các nhà Nho nói chữ thì gọi Đà Nẵng là Trà U, Trà Áo, Trà Sơn hay Đồng Long Loan.

Ngoài ra, từ năm 1888 cho đến hết thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của Pháp (1945) thì Đà Nẵng còn có một tên gọi nữa là Tourane. Cái tên này cho đến ngày nay nhiều người Châu Âu vẫn còn quen gọi. Nếu nhìn lại trong các bản đồ, sách vở hay các bản ghi chép của người châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII… thì đã thấy nhắc đến địa danh Tourane.

tim-hieu-ten-goi-da-nang-qua-cac-thoi-ky-2

Tên gọi Tourane xuất hiện trên bản đồ (Ảnh: timhieulichsu.net)

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì Tourane được đổi tên thành Thái Phiên - nhà yêu nước đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916. Hai năm sau, thành phố lại được đổi tên thành Đà Nẵng và cái tên này được giữ nguyên cho đến bây giờ.

Lý giải ý nghĩa của tên gọi Đà Nẵng

Theo nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo thì tên gọi “Đà Nẵng” là từ phiên âm từ tiếng Chăm Pa với nguyên âm “Hang Danak”. Nhà nghiên cứu Lam Giang cho rằng người Chăm gọi tên vùng này là “Hang Danak” nghĩa là “dải đất do biển rút cạn để lộ ra”. Còn “Danak” hay “Darak” có nghĩa là “cửa sông tiếp giáp biển”, tức sông Hàn.

Người xưa đã mượn ngôn ngữ Chăm, phiên âm theo tiếng Hán để tạo thành tên gọi của thành phố Đà Nẵng ngày nay. Điểm độc đáo ở tên gọi này đó là dù mượn từ của một ngôn ngữ, phiên âm theo một ngôn ngữ khác nhưng vẫn giữ được ý nghĩa “vùng sông nước xưa kia” - một nét đặc trưng của Đà Nẵng.

tim-hieu-ten-goi-da-nang-qua-cac-thoi-ky-4

Ảnh: thuexadanangcar.com

Ngoài cách giải thích theo hướng ngôn ngữ học thì còn có một cách lý giải khác do người đời truyền miệng nhau. Trong bài hát “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” của tác giả Hoàng Hiệp có câu hát:

 “Một dãy núi mà hai màu mây

Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác

Như anh với em, như Nam với Bắc

Như Đông với Tây một dải rừng liền.”

Đà Nẵng và Huế được ngăn cách bởi ngọn đèo Hải Vân - ngọn đèo được mệnh danh là thiên hạ đệ nhất hùng quan bởi cảnh sắc thiên nhiên đẹp hùng vĩ, hòa quyện giữa trời đất, núi non và biển cả. Phía Bắc đèo là Huế, khi vào mùa mưa thì nơi đây mưa tầm tã, mưa dai dẳng không ngớt. Thế mà chỉ cần đi qua khỏi đèo Hải Vân thì sẽ như một thế giới khác. Trời quang mây tạnh với nắng vàng chiếu sáng. Người đi đường sau khi băng qua đèo thấy trời nắng nên đã thốt rằng “đã nắng, đã nắng”. Người miền Trung có chất giọng nặng nên “đã” nghe giống “đà”, “nắng” nghe giống “nẵng”. Lâu dần, người ta gọi thành Đà Nẵng cho dễ đọc và đó là lý do vì sao cái tên Đà Nẵng xuất hiện.

tim-hieu-ve-ten-goi-da-nang-qua-cac-thoi-ky-1

Ảnh: danangfantasticity.com

Đến tận bây giờ, vẫn chưa có một công bố chính thức về cách giải thích nguồn gốc tên gọi Đà Nẵng. Tuy nhiên, dù thế nào đi chăng nữa thì Đà Nẵng vẫn luôn là thành phố gây thương nhớ cho nhiều du khách. Đà Nẵng đang ngày càng vươn mình để trở nên sôi động nhưng vẫn không làm mất đi nét trữ tình bên con sông Hàn thơ mộng.