Cung An Định và cuộc hôn nhân đẫm nước mắt của Nam Phương hoàng hậu

Cung An Định và cuộc hôn nhân đẫm nước mắt của Nam Phương hoàng hậu

Thừa Thiên Huế 14.08.2020

Cố đô Huế là nơi tập trung nhiều công trình kiến trúc xưa của 2 triều đại phong kiến Việt Nam với quy mô đồ sộ. Ngoài lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn, cung An Định cũng là điểm đến thu hút nhiều du khách ghé thăm để khám phá câu chuyện buồn về hoàng hậu Nam Phương.

Được viết bởi giangntm

Cung An Định là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và độc đáo của triều Nguyễn còn tồn tại cho đến ngày nay. Trải qua 103 năm, nơi đây mang trong mình dấu ấn của thời gian cùng nỗi lòng hoàng hậu Nam Phương - hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.

Cung An Định có tuổi đời hơn một thế kỷ

Cung An Định thuộc phường Đệ Bát - thị xã Huế cũ, hiện nay là số 97 đường Phan Đình Phùng, phường Phú Nhuận của thành phố Huế, tọa lạc ngay bên bờ sông An Cựu. Đây là cung riêng và là nơi sinh sống, trưởng thành của vua Khải Định từ khi còn là thái tử cho đến khi lên ngôi vua năm 1916. Sau đó Bảo Đại là con vua Khải Định thừa kế cung An Định và từng sinh sống cùng gia đình ở đây sau khi thoái vị.

Cung-an-dinh-nemvn-01

Cung An Định bên bờ sông An Cựu. Thành phố Huế. Ảnh: vi.wikipedia.org

Cung An Định trước kia có tên gọi là Phủ Phụng Hóa được vua Đồng Khánh (1886-1889) là cha của vua Khải Định xây dựng đầu thế kỷ 20. Phủ Phụng Hóa được xây dựng bên bờ sông An Cựu của Cố đô Huế để làm quà cho hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Đảo.

Cung-an-dinh-nemvn-02

Cung An Định một thời. Ảnh: lendang.vn

Cung-an-dinh-nemvn-03

Cung An Định nhìn từ bờ bên kia sông An Cựu, Huế thập niên 1920. Ảnh: kienthuc.net.vn

Nguyễn Phúc Bửu Đảo niên hiệu Khải Định (1916-1925) là hoàng đế thứ 12 của triều đại nhà Nguyễn. Năm 1902 ông lập phủ riêng và gọi tên là cung An Định. Sau khi vua Khải Định lên ngôi năm 1916, ông đã sử dụng tiền riêng của mình để cải tạo phủ Phụng Hóa thành cung điện nguy nga, tráng lệ và đổi tên thành cung An Định vào năm 1917. Theo ý nguyện của vua Khải Định, năm 1922, cung An Định được trao lại cho hoàng tử Vĩnh Thụy sau này lấy niên hiệu là Bảo Đại 1925-1945). Dưới hai đời vua nhà Nguyễn là Khải Định và Bảo Đại, cung An Định là địa điểm được sử dụng để tổ chức lễ lược, khánh hỷ của hoàng gia.

Cung-an-dinh-nemvn-04

Cung An Định được trang hoàng trong một dịp lễ trong thập niên 1920. Ảnh: kienthuc.net.vn

Cung-an-dinh-nemvn-05

Cung An Định vào khoảng năm 1930 (ảnh trên Postcard của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế nhân kỷ niệm 100 năm Cung An Định). Ảnh:dantri.com.vn

Năm 1945, cựu hoàng Bảo Đại cùng gia đình chuyển từ Hoàng Cung về cung An Định sinh sống. Cho đến năm 1954, cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm (Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa) tịch thu. 

Sau năm 1975, Từ Cung Hoàng thái hậu tức là thân mẫu của vua Bảo Đại đã hiến cung An Định cho chính quyền cách mạng. Cung An Định xuống cấp nghiêm trọng sau khi được sử dụng làm khu nhà tập thể cho các gia đình của giáo sư ở Đại học Huế sinh sống. Cho đến năm 2001, cung này mới được phục hồi và trùng tu lại về cơ sở hạ tầng cũng như những di tích ở bên trong. Bên trong cung An Định có sáu bức họa Khải Trường Lầu cũng đã được phục chế để trả lại diện mạo vốn có và được đặt trong nội điện di tích của cung. Bên cạnh đó, toàn bộ hiện vật của Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng được đưa đến đây để trưng bày ngay trước lối vào cung An Định.

Cung An Định và nỗi buồn của hoàng hậu Nam Phương

Cuộc hôn nhân gặp đầy sóng gió của vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu

Cung An Định là nơi gắn bó cùng nhiều nhân vật hoàng gia cuối triều đại phong kiến nhà Nguyễn từ vua Khải Định cho đến vua Bảo Đại, hoàng tử Bảo Long hay Từ Cung Hoàng thái hậu và đặc biệt là Nam Phương hoàng hậu - vợ của vua Bảo Đại. Năm 2005, Lý Nhân Phan Thứ Lang đã lần đầu cho in tác phẩm của mình có tựa đề "Nam Phương - hoàng hậu cuối cùng” đã khắc họa rõ nét chân dung của vị hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam, một người tài sắc vẹn toàn nhưng phải nhiều lần rơi nước mắt tại chính cung An Định.

Cung-an-dinh-nemvn-06

Cung An Định đượm buồn trong một buổi chiều thu. Ảnh:@my20thsummer

Hoàng hậu Nam Phương (1914-1963) tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, bà là con gái của một gia đình Công giáo giàu có, ông ngoại lại là đại phú hộ. Sinh thời, bà là người phụ nữ nức tiếng ở xứ An Nam với lòng nhân từ, tài sắc vẹn toàn, gia đình học thức.

Cung-an-dinh-nemvn-07

Chân dung Hoàng Hậu Nam Phương. Ảnh: vi.wikipedia.org

Theo cuốn "Hồi ký Le Dragon d’Annam”, cuối năm 1932, vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương gặp nhau trong một buổi yến tiệc hoàng gia tại Hotel Palace ở Đà Lạt. Sau nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện, hai người đã nảy sinh tình cảm và quyết định đi đến hôn nhân vào năm 1934. Vì bà xuất thân trong gia đình Công giáo giàu có nên khi vua Bảo Đại hỏi cưới, gia đình hoàng hậu Nam Phương đã ra các điều kiện được cuốn sách "Con Rồng Việt Nam” - hồi ký của vua Bảo Đại viết lưu lại như sau:

"1. Nguyễn Hữu Thị Lan phải được phong Chánh cung Hoàng hậu ngay trong ngày cười.

2. Được giữ nguyên đạo Công giáo, các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.

3. Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.

4. Phải được Tòa thánh cho phép đặc biệt khi hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.”

Cung-an-dinh-nemvn-08

Nhan sắc xinh đẹp của Nam Phương hoàng hậu tuổi đôi mươi. Ảnh: eva

Thời điểm đó Bảo Đại 21 tuổi và Nam Phương cũng chỉ mới 20 tuổi. Khi vua Bảo Đại quyết định lấy vợ theo đạo Công giáo đã tạo nên một làn sóng phản đối và khủng hoảng lớn trong triều đình nhà Nguyễn. Gia đình hoàng hậu Nam Phương lo sợ hôn nhân không thành nên đã nhờ đến sự can thiệp của Đức Thánh Cha thông qua đại diện Tòa Thánh ở Đông Dương. Sau nhiều lần đệ đơn, cuộc hôn nhân này vẫn không được Giáo hoàng cho phép bởi ông không muốn đi ngược lại luật lệ đã định của nhà đạo.

Tuy gặp nhiều sóng gió, cuối cùng cuộc hôn nhân của vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương vẫn được tiến hành dù không được Tòa Thánh Vatican phê chuẩn. Hôn lễ của hai người được diễn ra vào ngày 20 tháng 3 năm 1934 tại kinh thành Huế. Một bữa yến tiệc tổ chức tại cung An Định được ghi lại trong hồi ký của vua Bảo Đại.

Cung-an-dinh-nemvn-09

Hoàng Hậu Nam Phương cùng các con. Ảnh: pose.vn

Ngay sau đó, ngày 21 tháng 3 năm 1934, lễ tấn phong Hoàng hậu diễn ra ở điện Thái Hòa thuộc Đại Nội ngày nay đã phong Nguyễn Hữu Thị Lan tước vị Nam Phương Hoàng Hậu. Sau lễ cưới, hai người sinh sống tại Điện Kiến Trung thuộc khu vực bên ngoài Tử Cấm Thành. Theo quyết định của Tôn Nhân phủ, gia đình vua Bảo Đại không được sống trong Tử Cấm Thành. 

Cung-an-dinh-nemvn-10

Lễ cưới của Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương năm 1934. Ảnh: hinhanhvietnam.com

Hoàng hậu Nam Phương được đánh giá là người học rộng tài cao, bà đối xử khéo léo với những người tôn sùng đạo Phật trong hoàng tộc. Bà là người có đức tính cao quý, vẫn luôn kính cẩn với đạo Phật nhưng vẫn giữ được tín ngưỡng và kiên định của bản thân. Bà cùng vua Bảo Đại có tất cả năm người con gồm: Hoàng thái tử Bảo Long, Hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và Nhị Hoàng tử Bảo Thắng.

Từ khi vua Bảo Đại thoái vị năm 1945, Hoàng hậu Nam Phương cùng Từ Cung Hoàng thái hậu và các con dọn về cung An Định sinh sống. Đây là nơi bắt đầu cho những tháng ngày đau buồn, chia ly khiến Hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam phải nhiều lần rơi nước mắt.

Cung-an-dinh-nemvn-11

Đại sảnh cung An Định. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Nước mắt và nỗi lòng của hoàng hậu Nam Phương tại cung An Định

Ngay từ vị trí phong thủy, cung An Định đã mang nét đượm buồn khi nằm bên con sông An Cựu, một con sông tĩnh lặng với màu nước có gì đó trúc trắc tựa như những cuộc tình thay đổi khó đoán, nắng mưa thất thường.

"Núi Ngự Bình trước sau mòn méo

Sông An Cựu nắng đục mưa trong

Vì thầy mẹ bên anh lắng đục tìm trong

Nên duyên nợ chàng thiếp cứ long đong rứa hoài…”

Tác giả Lý Nhân Tứ Phan đã viết trong tác phẩm "Nam Phương - Hoàng Hậu cuối cùng” về những ngày tháng bà ở cung An Định. Hoàng hậu Nam Phương rơi những giọt lệ đầu tiên dưới sự chứng kiến của ông Phạm Khắc Hòe (một luật sư, nhà văn, đổng lý Ngự tiền văn phòng triều Bảo Đại) vào trưa 30/8/1945 khi Đức cựu hoàng Bảo Đại thoái vị và nhận được công điện từ Hà Nội. Chính phủ gửi lời mời Bảo Đại làm cố vấn chính phủ tối cao và sắp xếp ra Hà Nội.

Ngày 2/9/1945, khi xe đến đón vua Bảo Đại, cả cung An Định vẫn im phăng phắc, một lúc sau Hoàng hậu Nam Phương cùng các con từ trong nhà đi ra chào tạm biệt. Vua Bảo Đại hôn vợ cùng các con và nói những lời âu yếm bằng ngôn ngữ Pháp, đây là lần đầu tiên mà ông đi xa mà không có vợ con theo cùng. Một khung cảnh lắng đọng khi Hoàng hậu Nam Phương nét mặt buồn bã đưa tay trái sửa lại sợi dây thánh giá, tay phải cầm lấy chiếc khăn mùi xoa lau những giọt nước mắt, hòa cùng khung cảnh đó là tiếng gõ mõ từ trên lầu vọng xuống của Từ cung khiến cảnh vật thêm thê lương. Hoàng hậu Nam Phương mắt nhìn theo như muốn níu chồng mình lại nhưng cuối cùng Bảo Đại không quay lại, ông chỉ hôn hoàng nữ Phương Dung rồi nói to "Thôi đi!”.

Cung-an-dinh-nemvn-12

Bà và các con đã có những ngày tháng buồn tại cung An Định. Ảnh: eva

Trong hồi ký "Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc”, Cụ Phạm Khắc Hòe đã từng nói về Bảo Đại như sau: "Bảo Đại nông cạn, ngây thơ, nhu nhược, thích ăn chơi hơn là quyền bính. Ông ta có thể phục thiện nhưng rất dễ bị bọn cơ hội lợi dụng”. Kể từ ngày bước chân ra Hà Nội, Bảo Đại liên tiếp có nhiều mối quan hệ tình ái ngoài luồng, đầu tiên là ái nữ Mộng Điệp và sau đó và vũ nữ Lý Lệ Hà. Không chỉ dừng lại ở đó, Bảo Đại còn tiêu xài hoang phí, tiền ông sử dụng đều được cấp từ Hoàng hậu Nam Phương ở Huế. Thế nên vào một ngày, Bảo Đại đã nhờ cụ Phạm Khắc Hòe đưa một bức thư đến Hoàng hậu Nam Phương để lấy một ít tiền tiêu xài. 

Khi cụ Hòe đưa bức thư đến tay Hoàng hậu Nam Phương, một lần nữa nước mắt bà lại rơi. Trong lần gặp mặt tiếp theo, Hoàng hậu Nam Phương gửi tiền cho ông Hòe chuyển lại Bảo Đại kèm theo một phong thư. Không rõ lá thư đó viết gì nhưng sau khi đến tay cựu hoàng, ngày 16/3/1946, Bảo Đại cùng Lý Lệ Hà sang Hồng Kông, để lại gia đình và Hoàng hậu Nam Phương với nỗi đau thấu tâm can.

Cung-an-dinh-nemvn-13

Cung An Định qua thời gian đã phủ những lớp rêu phong, cổ kính. Ảnh: @athu.f_vp

Kể từ đó, Nam Phương Hoàng hậu sống cùng con và Đức Từ Cung tại Cung An Định với những ngày tháng buồn đau và chia ly bởi những mối tình ngoài luồng của chồng cùng sự thờ ơ của Bảo Đại.

Cuộc đời của Hoàng hậu Nam Phương về sau cũng buồn bã và tĩnh lặng. Bà sống âm thầm trong cung An Định và gồng mình để chăm sóc, nuôi nấng các con. Mãi đến năm 1947, bà cùng các con sang Pháp sinh sống và mất năm 1963 tại Chabrignac. Giờ lâm chung, bà cũng không có người ruột thịt nào bên cạnh, chỉ có mấy người giúp việc, còn các con đều đi học hoặc đi làm xa, Bảo Đại thì sống ở miền Nam nước Pháp. Đám tang của Nam Phương hoàng hậu được cử hành rất đơn giản theo nghi thức Công giáo, có các Hoàng tử, Công chúa và bạn bè thân thiết.

Cung-an-dinh-nemvn-14

Domaine de la Perche là lâu đài rộng lớn - nơi ở trong những năm cuối đời của Nam Phương hoàng hậu. Ảnh: homedecorplus

Cung-an-dinh-nemvn-16

Phần mộ của bà được đặt ở một ngọn đồi xinh đẹp. Ảnh: homedecorplus

Cung An Định là một trong những công trình mang giá trị lịch sử to lớn, là nhân chứng của triều đại phong kiến Việt Nam còn tồn tại cho đến ngày nay. Nơi đây lưu giữ những tháng ngày buồn tủi, đẫm nước mắt của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn Nam Phương Hoàng hậu - vị hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam.

Trích nguồn

[1] Sách "Nam Phương - hoàng hậu cuối cùng". Tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang.

[2] Hồi ký "Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc". Tác giả Phạm Khắc Hòe

[3] Hồi ký "Le Dragon d’Annam - Con rồng Việt Nam". Tác giả Bảo Đại

[4] Sách "Bao Dai ou les derniers jours de l’empire d’Annam - Bảo Đại, hay là những ngày cuối cùng của vương triều An Nam". Tác giả Daniel Grandclément.