Sự độc đáo của bài chòi - 'Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại'

Sự độc đáo của bài chòi - 'Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại'

Quảng Bình - Quảng Trị Thừa Thiên Huế Đà Nẵng - Quảng Nam Bình Định - Phú Yên - Khánh Hoà 09.09.2020

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật, trò chơi dân gian của miền Trung Việt Nam. Môn nghệ thuật này thu hút nhiều du khách bởi sự độc đáo trong cách chơi.

Được viết bởi giangntm

Bài chòi - di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Việt Nam có sự phong phú của các loại hình nghệ thuật: miền Bắc say mê với dân ca quan họ Bắc Ninh, Nam Bộ chìm đắm với đờn ca tài tử và Trung Bộ thỏa mãn với nghệ thuật bài chòi. Đây là môn nghệ thuật phổ biến ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hội An. Bài chòi độc đáo trong cách thể hiện thu hút rất nhiều du khách thưởng thức. Năm 2003, bài chòi được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

bai-choi-20

Bài chòi là nghệ thuật dân gian đặc trưng của Trung Bộ. Ảnh: qdnd.vn

Nguồn gốc hình thành của bài chòi đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế giải thích trong nhiều tài liệu. Trong cuốn "Larousse musicale" xuất bản tại Pari, Pháp, nhà nghiên cứu G.L Bouvier viết về bài chòi trong chương “Những bài hát phổ thông của người An Nam”. Ông cho rằng bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến (1470) nhưng không đưa ra các dẫn chứng để giải thích.

bai-choi-3

Bài chòi có lịch sử hình thành từ lâu đời. Ảnh: Tạp chí Sông Hương

Một số nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra luận cứ cho rằng Đào Duy Từ (1572-1634) là người sáng tạo ra bài chòi. Vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Đào Duy Từ là người Thanh Hóa đã đi theo chúa Nguyễn vào Nam, khi dừng chân ở Bình Định ông đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh ở miền núi sáng tạo ra bài chòi. Thời điểm này, nhiều thú dữ thường từ trên rừng về phá hoại mùa màng, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Để chống lại thú dữ, người dân đã tìm cách dựng những chiếc chòi cao ven rừng, trên mỗi chiếc chòi đều có thanh niên trai tráng canh gác, nếu thấy thú dữ thì sẽ đánh trống, hô to đuổi chúng. Để tránh buồn chán nên người dân đã nghĩ ra được cách giao lưu với nhau bằng những câu hát, câu hò trên chòi. Không chỉ dừng lại ở đó, người dân còn nghĩ ra thêm cách chơi bài tứ sắc (một dạng khác của bài tam cúc ở miền Bắc), vừa chơi bài vừa hát giữa các chòi với nhau, thời bấy giờ gọi là hô bài chòi. Đây cũng chính là bắt nguồn của nghệ thuật bài chòi hiện nay.

Giai đoạn trước năm 1945, bài chòi phát triển rất mạnh mẽ ở khu vực Nam Trung Bộ. Đến giai đoạn từ năm 1975 - 1990, bài chòi có nguy cơ bị mai một và lãng quên vì có những quan điểm cho rằng bài chòi là một dạng như đánh bạc. Cuối năm 1990, nghệ thuật bài chòi lại trở nên phổ biến và được phục vụ trong nhân dân nhiều hơn. Từ năm 2010, bài chòi được người dân Trung Bộ thường xuyên tổ chức vào các dịp Tết, chào xuân năm mới. Vì thế mà có những câu ca dao nói về bài chòi: 

"Bài chòi mở hội đầu Xuân

Hội vui đón Tết hội mừng non sông

Vui chơi cho phỉ tấm lòng

Chờ mười hai tháng nữa mới mong tựu tề”

bai-choi-5

Bài chòi được người dân Trung Bộ thường xuyên tổ chức vào các dịp Tết. Ảnh: Tổng cục Du lịch

Bài chòi và sự độc đáo của các con bài

Bài chòi là loại hình nghệ thuật dân gian mộc mạc, mang hơi thở của cộng đồng. Công chúng khi tham gia chơi bài chòi một lúc có thể thưởng thức được nhiều thể loại, nhiều thành phần nghệ thuật khác nhau như dân ca, thơ, trò chuyện và các loại nhạc cụ truyền thống. Lối hay của bài chòi là kể chuyện nhưng không giống lối kể thông thường mà kèm theo đó là động tác, phụ họa thể hiện tự nhiên, gần gũi. Chỉ cần một người có thể đóng được nhiều vai khác nhau, sử dụng lời thơ làm thành lối độc diễn tự tin, mộc mạc chính là điểm hoàn toàn khác biệt của bài chòi so với các loại hình nghệ thuật khác.

Buổi biểu diễn bài chòi gồm có các chòi, lá bài, đội nhạc cụ và không thể thiếu một nhân vật quản trò.

bai-choi-8

Một sân khấu bài chòi chuẩn. Ảnh: Danviet

Chơi bài chòi thì không thể thiếu được con bài. Con bài là các thẻ tre được thiết kế theo dạng mái chèo, phần đầu bè ra để dán lá bài lên, chân thẻ bài được nhuộm màu giống nhau để khi cho vào ống không phân biệt được các con bài. Một bộ bài chòi truyền thống gồm 30 lá bài, chia làm 3 pho: pho văn, pho vạn, pho sách. Trong mỗi pho có 9 cặp, 3 cặp lá bài yêu là ông ầm, thái tử, bạch tuyết được gọi theo tên gọi khác nhau của từng địa phương, 3 cặp lá bài này cũng được đóng thêm con dấu đỏ để phân biệt với những con bài khác.

bai-choi-11

Lá bài chòi được người dân bảo tồn qua bao năm tháng. Ảnh: @nauthna666

Hiện nay nhiều nơi còn sử dụng bộ bài tam cúc cải tiến để chơi bài chòi, gồm 33 lá chia thành 3 pho, mỗi pho 10 lá và thêm 3 lá ông ầm đen, tử cẳng đen và cửu điều đen.

bai-choi-9

Mẫu lá bài chòi trên thẻ tre. Ảnh: Hội An TV

Ban nhạc cổ góp vui cho cuộc chơi bài chòi gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi "tới". 

Cách thể hiện khác biệt của bài chòi

Bài chòi không chỉ có sân khấu mà khác ở chỗ được dựng thêm các chòi để chơi. Ngoài ra, môn nghệ thuật này còn có điểm đặc biệt là bất cứ ai cũng có thể tham gia chơi cùng các nghệ sĩ.

Người dân thường dựng các chòi ở những vị trí rộng rãi, dễ thu hút sự chú ý và nhiều người qua lại. Các chòi thường được bố trí theo hình chữ U, quay mặt vào trong sân. Thông thường số lượng chòi được dựng khoảng từ 9 đến 11 chòi, chia thành 2 bên đối xứng nhau, mỗi chòi cao khoảng 2 - 3m đủ cho vài ba người ngồi. Cuối hai dãy là chòi trung tâm hay còn gọi là chòi cái dành cho ban điều hành và đội cổ nhạc. Ở chòi trung tâm có trống dành cho người điều khiển cuộc chơi, cạnh đó là chỗ ngồi chơi nhạc.

Trích đoạn một buổi chơi bài chòi ngày xuân ở Hội An.  Video: Youtube

Chòi được dựng bằng tre có thang cho người leo lên xuống. Trên mỗi chòi còn treo một cái mõ tre làm hiệu lực khi chơi, ngoài ra còn cắm thêm một lá cờ hội. Giữa sân chơi bài chòi dựng một cây nêu bằng tre cao, trên định là lá cờ hội lớn.

bai-choi-7

Chòi được dựng bằng tre có thang cho người leo lên xuống. Ảnh: Báo Nha Trang

Sân khấu biểu diễn bài chòi nằm ngay trung tâm, là kiểu trệt có bốn mặt. Sân khấu dành cho 1 hoặc 2 nhân vật đặc biệt (tùy theo lối chơi từng nơi) làm nhiệm vụ quản trò hay còn gọi là người chạy bài hoặc anh Hiệu. Nhân vật này phải hiểu hết về các con bài, có kinh nghiệm chơi và còn phải biết hò, nhớ nhiều thơ và ca dao để ứng biến khi chơi. Anh Hiệu là một trong những nhân vật quan trọng tạo nên tính hấp dẫn cho lễ hội bài chòi.

Để bắt đầu cuộc chơi bài chòi, 3 tiếng trống sẽ vang lên, dàn nhạc bắt đầu phụ họa theo và người tham gia sẽ leo lên chòi theo sự sắp xếp của ban tổ chức. 30 lá bài sẽ được chia đôi, ban tổ chức một nửa và nửa còn lại phát cho mỗi chòi 3 thẻ. Nguyên tắc là ban tổ chức sẽ tiến hành rút bất kì thẻ đựng trong ống tre, chòi có thẻ trùng với thẻ của ban tổ chức là thắng. Có nơi tổ chức phát bài theo cách như phát đều mỗi chòi 5 đến 6 lá, chòi cái nhiều hơn 1 thẻ và lấy đó làm con bài đi chợ. Mỗi lần chòi nào có thẻ trùng với con bài đó thì đi một trong hai con và để con cuối cùng “chực tới”.

bai-choi-6

Lá bài được treo trước chòi. Ảnh: Người lao động

Anh Hiệu mặc áo dài khăn đóng ra sân, sau khi bưng khay đến từng chòi thu tiền và phát bài. Người ngồi trên chòi nhận bài sẽ găm vào khúc chuối hay bó rơm được dựng sẵn trong chòi. Anh Hiệu đến giữa sân và nói: “Phát bài đã đủ cho Hiệu tính tiền"; 3 tiếng trống hầu vang lên cho phép. Nếu chơi theo cách 1, anh Hiệu sẽ ôm ống đựng thẻ lắc mạnh nhiều lần, lúc này tiếng trống thúc liên hồi, dàn nhạc bắt đầu dồn dập tưng bừng. Anh Hiệu không đọc tên con bài ra bằng cách thông thường mà phải đọc bằng thơ lục bát. Ví dụ có con Bát Bồng sẽ đọc:

“Chầu rày đã có trăng non

Để anh lên xuống có con em bồng”

Chòi có con bài trùng với con bài đó sẽ đáp lại bằng ba tiếng mõ treo ở chòi. Anh Hiệu chạy bài đem tới cho chòi trúng, con bài lại được găm vào khúc chuối hay bó rơm, sau đó anh Hiệu trở về tiếp tục lắc ống và rút con bài. Trò chơi được tiếp tục cho đến khi có chòi trúng 3 lần thì sẽ được báo hiệu bằng một hồi mõ dài, chòi trung tâm sẽ báo một hồi trống tum, kết thúc một ván bài. Sau đó, anh Hiệu đi các chòi thu hồi thẻ bài và đem khay đựng tiền thưởng đến chòi thắng cuộc. Thông thường, phần thưởng là 8-10 suất (trên tổng số tiền thu được), lưu lại 1-2 suất cho ban tổ chức làm chi phí. Hết lượt chơi, người chơi cũ xuống, người mới lên và bắt đầu ván bài chòi khác.

bai-choi-12

Anh Hiệu chạy bài đem tới cho chòi trúng. Ảnh: @serquih

Ý nghĩa của bài chòi đối với người dân Trung Bộ

Bài chòi không phải là một trò chơi giải trí đơn thuần mà đây còn là sân khấu biểu diễn các làn điệu dân ca đặc trưng ở vùng Trung Bộ. Các lời hát được anh Hiệu xướng lên đều mang tính giáo dục cao, thể hiện tình yêu đất nước, quê hương, đề cao phẩm chất của con người và phê phán tệ nạn xã hội. Dù được hình thành trong quá trình lao động sản xuất nhưng bài chòi đã bám rễ vào tâm hồn và không gian văn hóa của người dân nhiều tỉnh Trung Bộ. Lời ca bình dị, mộc mạc của bài chòi trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của tầng lớp nhân dân khu vực miền Trung mỗi dịp Tết đến, xuân về.

bai-choi-13

Lời ca của bài chòi mang tính giáo dục cao. Ảnh: @hoangphong2508

Hội bài chòi thu hút mọi lứa tuổi, từ cụ ông cụ bà cho đến những cô cậu thanh niên, những đứa trẻ. Với người dân Trung Bộ, tham gia chơi bài chòi không chỉ tìm thú vui giải trí mà đây như là một cách để người chơi xem vận may trong năm mới, vì thế ai nấy đều chơi một cách say mê, cố gắng dành chiến thắng.

bai-choi-10

Hội bài chòi thu hút người dân ở mọi lứa tuổi. Ảnh: @thefangallery

Bài chòi Trung Bộ vừa mang hơi hướng của cuộc sống hiện đại nhưng lại vừa chứa đựng vẻ duyên dáng của nét truyền thống lâu đời. Hội bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa của người dân nhiều tỉnh Trung Bộ, tạo nên không khí vui tươi trong những ngày xuân về.

Nguồn tham khảo

Báo ảnh Dân tộc và miền núi