4 điểm đến nổi bật nhất định không thể bỏ qua khi đến Huế

4 điểm đến nổi bật nhất định không thể bỏ qua khi đến Huế

Thừa Thiên Huế 02.01.2020

Huế là nơi mang đậm giá trị lịch sử của Việt Nam với hệ thống lăng tẩm đồ sộ được xây dựng từ thời phong kiến. Dưới đây là 4 địa điểm nổi bật nhất của cố đô du khách nên ghé thăm.

Được viết bởi nhannv

Nằm bên bờ Sông Hương, thành phố Huế là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên Huế ở miền Trung Việt Nam, cách Hà Nội 700 km về phía Nam. Từ năm 1788 đến 1945, Huế là thủ đô quốc gia, trung tâm chính trị, văn hóa và tôn giáo của Việt Nam dưới sự kiểm soát của nhà Nguyễn. Với các giá trị lịch sử, Huế đã được UNESCO công nhận là một trong những di sản văn hóa thế giới vào năm 2003.

Cố đô Huế

du-lich-hue-111

Sơ đồ Kinh thành Huế và một số di tích. Ảnh: nguoikesu

Cố đô Huế là nơi đầu tiên du khách nên ghé thăm khi đến với Huế. Nằm bên bờ sông Hương thơ mộng, quần thể di tích Cố đô Huế có diện tích hơn 500 hecta, bao gồm nhiều di tích lịch sử - văn hóa do vua Gia Long triều Nguyễn xây dựng ở đầu thế kỷ 19. Cố đô Huế bao gồm 3 vòng thành: Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành.

Kinh Thành Huế

du-lich-hue

         Kinh thành Huế về đêm. Ảnh: Nhân Nguyễn

Được xây dựng từ đầu thế kỉ XIX từ năm 1805 kéo dài liên tục tới tận năm 1823, Kinh Thành Huế có hơn 10 cửa ra vào và được thiết lập hơn 24 pháo đài để phòng thủ. Trong Kinh thành, nhà Nguyễn còn cho xây dựng nhiều lăng tẩm và các công trình lớn nhỏ như Kỳ Đài, điện Long An, trường Quốc Tử Giám, Hồ Tịnh Tâm...

Kỳ Đài

du-lich-hue-1

          Kì Đài Huế từ phía kinh thành Huế nhìn ra. Ảnh: dulichhue

Kỳ Đài hay còn gọi là cột cờ. Kì đài được xây dựng ở vị trí phía trước và chính giữa của kinh thành Huế. Đài cờ có ba tầng hình chóp cụt hình chữ nhật chồng lên nhau: tầng thứ 1 cao hơn 5,5m, tầng giữa và tầng trên cùng cao 6m. Nền của ba tầng được lát bằng gạch vuông, gạch vồ và trước kia có tám khẩu đại bác cùng hai chòi canh ở đây. Cột cờ xưa kia làm bằng gỗ, có hai tầng, cao 30m nhưng do thiên nhiên và khói lửa chiến tranh, nó bị gãy 2 lần và được đổ lại bằng bê tông, cốt thép với chiều cao 37m như hiện nay.

Một điều đặc biệt đó là vào ngày 23/8/1945, lần đầu tiên lá cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được kéo lên trên đỉnh Kỳ Đài, báo hiệu sự chấm dứt của chế độ quân chủ.

Trường Quốc Tử Giám

du-lich-hue-2

     Quốc Tử Giám. Ảnh: timhieuvietnam.vn

Trường Quốc Tử Giám tọa lạc ở số 1 đường 23 tháng 8, thành phố Huế. Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Tiền thân của trường Quốc Tử Giám là Đốc Học Đường được xây dựng dưới thời vua Gia Long tại xã An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây. Năm 1820, vua Minh Mạng cho đổi tên thành trường Quốc Tử Giám và trường được xây to hơn. Năm 1848, trường xây thêm tường bao bọc và dãy cư xá, mỗi bên 2 gian. Trong một lần ghé thăm trường, vua Tự Đức đã làm một bài văn 14 chương để khuyến khích sinh viên học tập. Toàn bộ nội dung bài văn này được khắc vào tấm bia phía trước sân trường.

Đến năm 1908 dưới thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành (tức vị trí hiện nay). So với kiến trúc cũ, Quốc Tử Giám mới được xây dựng mới thêm nhiều công trình phụ. Đến năm 1945 khi nhà Nguyễn chấm dứt, nơi đây được giữ nguyên kiến trúc lịch sử đến bây giờ.

Hiện tại, nơi đây vẫn còn 32 tấm bia khắc tên 293 tiến sĩ triều Nguyễn bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm Minh Mạng đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định. 

Điện Long An

du-lich-hue-3

Điện Long An. Ảnh: homeaz

Là một trong những cung điện đẹp nhất ở Kinh thành Huế, Điện Long An thuộc tổng thể kiến trúc cung Bảo Ðịnh được vua Thiệu Trị cho xây dựng vào năm 1845 ở bờ bắc sông Ngự Hà (gần cầu Vĩnh Lợi phường Tây Lộc). Tổng thế kiến trúc của điện theo kiểu tòa nhà kép "Trùng thiềm điệp ốc" với nhà trước 7 gian có 8 bộ "vì kèo chồng rường giả thủ", nhà sau 5 gian với 6 bộ "vì kèo cánh ác".

Một điểm đặc biệt của Điện Long An đó là chi tiết gỗ không sơn son thếp vàng mà để mộc và tô điểm bằng kỹ thuật chạm trổ tinh xảo theo đồ án “lưỡng long triều nguyệt”, “long, lân, quy, phượng”. Ngoài ra, liên kết giữa các gian tiền điện và chính điện là những ô hộc trang trí theo kiểu nhất thi nhất họa, và thay vì được sơn son thếp vàng thì các ô hộc được khảm trực tiếp bằng xương, ngà voi, xà cừ...

Điện Long An từng là nơi nghỉ của vua Thiệu Trị sau khi tiến hành lễ Tịch Điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua thường lui tới nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh... Đến nay, Điện Long An đã trở thành Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế.

Hồ Tịnh Tâm

du-lich-hue-4

Hồ Tịnh Tâm trồng sen trắng lãng mạn. Ảnh: lendang.vn

Hồ Tịnh Tâm trước đây là vết tích sông Kim Long chảy qua Huế. Đến thời Gia Long, triều đình cải tạo lại một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Trong hồ có 2 bãi nổi để làm kho chứa diêm tiêu và thuốc súng. Năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng, hồ được triều Nguyễn huy động 8.000 binh lính để cải tạo, di dời 2 kho sang phía Đông và tái thiết chốn này thành nơi giải trí, tiêu dao và gọi là Hồ Tịnh Tâm.

Hồ hình chữ nhật với chu vi 1.500m có 3 hòn đảo là Doanh Châu, Phương Trượng, Bồng Lai. Xung quanh hồ có vòng tường gạch để ngăn cách, bốn mặt có 4 cửa gồm Hạ Huân ở phía Nam, cửa Đông Hy ở phía Bắc, cửa Xuân Quang ở phía Đông và cửa Thu Nguyệt ở phía Tây. Trong hồ trồng sen trắng, bờ hồ có các loại liễu trúc lãng mạn.

Hồ Tịnh Tâm được coi là khu thượng uyển nổi tiếng nhất của nhà Nguyễn. Vua Minh Mạng đã làm thơ ca ngợi 10 bài liền với tiêu đề Bắc hồ thập cảnh. Còn Vua Thiệu Trị lại xếp hạng Tịnh Tâm vị thứ 3 trong danh mục Thần Kinh nhị thập cảnh. 

Đại Nội Huế

du-lich-hue-112

Sơ đồ Đại Nội Huế. Ảnh: Wikipedia

Đại Nội hay còn gọi là Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ hai bên trong Kinh thành Huế, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Đại Nội được xây dựng từ năm 1804 đến năm 1833 mới hoàn thành toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình.

du-lich-hue-5

Toàn cảnh Đại Nội Huế nhìn từ bên ngoài. Ảnh: Vnexpress

Về kiến trúc, Đại Nội có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào: Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Dù được thiết kế với nhiều công trình nhưng tất cả đều nằm giữa thiên nhiên với xung quanh là vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo, hồ lớn nhỏ... rất thoáng đãng. Các công trình có nhiều quy mô khác nhau nhưng luôn tuân theo kiến trúc "trùng thiềm điệp ốc" - kiểu nhà kép hai mái trên một nền, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng. Bên trong cung điện được trang trí nội thất kiểu nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với nhiều bài thơ bằng chữ Hán.

du-lich-hue-113

Điện Thái Hòa nguy nga trong Đại Nội. Ảnh: yeudulich

Công trình nổi bật ở Đại Nội Huế là Điện Thái Hòa bởi nơi đây có đặt ngai vàng - biểu tượng cao nhất của một triều đại phong kiến. Đây cũng là nơi đăng quang của 13 vị vua triều Nguyễn, tổ chức các sự kiện quan trọng như các buổi đại triều, tiếp đón sứ thần,…

Tử Cấm Thành

du-lich-hue-6

Tử Cấm thành. Ảnh: huexuavanay.com

Tử Cấm thành là vòng tường thành thứ 3 của Kinh đô Huế và đây cũng là nơi làm việc, ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia triều Nguyễn. Nơi đây được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804) có tên Cung thành. Đến năm 1822, vua Minh Mạng đổi tên thành Tử Cấm thành, nghĩa là "Tòa thành cấm màu tía".

Tử Cấm Thành nằm trong Hoàng thành, hình chữ nhật, xây hoàn toàn bằng gạch vồ, bố cục chặt chẽ và đăng đối. Các công trình đều được xây dựng đối xứng qua trục chính (từ Ngọ Môn đến lầu Tứ Phương Vô Sự) và ở những vị trí tiền, hậu; thượng, hạ; tả, hữu; luôn nhất quán (tả văn hữu võ, tả nam hữu nữ, tả chiêu hữu mục).  Trong Tử Cấm thành có khoảng 50 công trình biến động qua các thời kỳ lịch sử. 

du-lich-hue-114

Hành lang trong Tử Cấm Thành với màu đỏ nổi bật. Ảnh: bazantravel

Vì là nơi ở của vua và gia quyến nên Tử Cấm Thành xưa kia được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Không chỉ dân thường mà ngay cả đến các quan lại, nếu không phải phận sự hoặc không được vua gọi vào cũng ít khi được lai vãng. Do vậy, sinh hoạt bên trong Tử Cấm Thành từ xưa đến nay vẫn gây sự tò mò.

du-lich-hue-115

Một cảnh sinh hoạt trong cung với vua trẻ Duy Tân trên kiệu. Ảnh: visithue

Với vị trí là nơi ở của vua và gia quyến nên Tử Cấm thành được bảo vệ nghiêm ngặt. Không chỉ thường dân, ngay cả đến các quan lại, nếu không phải phận sự hoặc không được vua gọi vào cũng ít khi được lai vãng. Bởi đặc điểm đó, sinh hoạt bên trong Tử Cấm thành từ trước đến nay vẫn còn là những điều ít được biết tới. Trong cuốn Đời sống trong Tử cấm thành, Tôn Thất Bình viết: “Từ khi được tuyển hay tiến cung, các phi tần không được phép gặp gỡ người thân dù là cha mẹ. Cũng có trường hợp ngoại lệ vua cho phép gặp mặt, nhưng chỉ mẹ mới được nói chuyện cùng con qua một bức màn sáo che, chỉ nghe thấy tiếng mà không nhìn thấy mặt nhau. Còn cha thì đứng ở ngoài sân nhìn vào. Cho nên ở Huế có câu “đưa con vô nội” là có ý nghĩa như mất con rồi”.

Chùa Thiên Mụ

du-lich-hue-8

   Chùa Thiên Mụ. Ảnh: tuoitrethudo.vn

Chùa Thiên Mụ còn có tên gọi khác là Linh Mụ, nằm trên đồi Hà Khê, bên dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình thuộc địa phận phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Nguyễn Hoàng - vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong và đây cũng là một trong những ngôi chùa cổ nhất đất cố đô. Nếu đi từ cầu Tràng Tiền đến chùa Thiên Mụ bằng Thuyền rồng bạn sẽ cần khoảng 3 giờ đồng hồ thuyền lững lờ trôi để ngắm thiên nhiên bình yên. Nhưng nếu đi bằng xe máy bạn chỉ mất tầm 20 phút.

Ngoài tháp Phước Nguyên, chùa Thiên Mụ còn có những công trình kiến trúc ấn tượng khác như điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm… cùng bia đá, chuông đồng. Phía sau của chùa là rừng thông rì rào che chắn gió mưa cho lăng mộ các vị hoàng đế. Gần chùa Thiên Mụ là Văn Quán - Võ quán, nơi các vị hiền sĩ thời Nguyễn nghiên cứu văn sử toán học.

Cầu Tràng Tiền

du-lich-hue-9

   Cầu Tràng Tiền thơ mộng. Ảnh: yeudulich

Cầu Tràng Tiền (hay còn gọi là cầu Trường Tiền) là cây cầu bắc qua dòng sông Hương rộng lớn nằm ở Phường Phú Hợi, phía Bắc thuộc phường Phú Hòa. Cầu được xây dựng năm 1899 dưới thời vua Thành Thái. Cây cầu dài 402,60 m, gồm 6 nhịp dầm thép hình vành lược, khẩu độ mỗi nhịp 67 m, khổ cầu 6 m, được thiết kế theo kiến trúc Gothic, bắc qua sông Hương.

Cây cầu đi vào văn thơ với các điệu hò ngọt ngào và các tà áo dài tím thướt tha của nữ sinh xứ Huế. Mỗi khi chiều về, người dân địa phương thường đi dạo dọc theo con đường ven cầu, gió từ dòng sông Hương thổi lên nhẹ nhàng và mát dịu như chính tính cách con người nơi đây vậy. Đêm đến, không chỉ thành phố Huế lên đèn mà cây cầu cũng rực rỡ sắc màu. Các nhịp cầu thay đổi màu liên tục phản chiếu những mảng màu ấn tượng trên dòng sông rộng lớn.

Núi Ngự Bình

du-lich-hue-10

Núi Ngự Bình cạnh dòng sông Hương. Ảnh: halovietnam

Bên cạnh sông Hương, núi Ngự Bình là nơi mà ai đến thăm xứ Huế đều nên ghé qua một lần. Núi Ngự Bình thuộc TP Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách kinh thành Huế khoảng 3km. Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh bằng phẳng, có thế bình phong che chở cho kinh thành Huế. Khắp núi được bao phủ bởi cây thông, chim muông thường về đây làm tổ. Bạn có thể lên đỉnh núi và ngắm núi sông xứ và toàn cảnh thành phố Huế mộng mơ.

Cố đô Huế không chỉ hấp dẫn du khách bởi hệ thống lăng tẩm đồ sộ mà còn tạo ấn tượng nhờ thiên nhiên hữu tình. Nhất định hãy nên đến Huế một lần, để thưởng thức trọn nét bình yên của mảnh đất này.

Nguồn tham khảo:

Wikipedia Tiếng Việt

Kienthuc.net